Thứ Tư, 1 tháng 7, 2020

2062 - Các thách thức sống còn của Trung Quốc nhìn từ kỳ họp lưỡng hội



Đây là báo cáo thứ 9 liên tiếp về kỳ hợp lưỡng hội mà tôi viết. Không dễ để tóm lược năm bản báo cáo chủ chốt (các báo cáo của chính phủ, Ủy ban phát triển và cải cách quốc gia (NDRC) – tài liệu giàu thông tin nhất, Bộ tài chính, Toà án nhân dân tối cao (SPC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (SPP)) và hàng loạt các cuộc họp báo cấp bộ trong một vài trang giấy. Thường thì trong các năm trước, các cuộc họp báo cấp bộ hé lộ nhiều mối ưu tiên và vấn đề nhất. Đáng buồn, và cũng có lẽ cũng đáng vui, là tổng số các cuộc họp báo này năm nay ít hơn, kể từ khi Lý Khắc Cường và Ngoại trưởng Vương Nghị chủ trì các cuộc gặp với báo chí.
Thông thường sẽ có rất nhiều ‘cắt và dán’ trong báo cáo từ năm này sang năm khác. Năm nay cũng không ngoại lệ. Để cho ngắn ngọn, tôi bỏ qua các điểm giống nhau. Những vấn đề được phản ánh sau đây, ít nhất là đối với bản thân tôi, là điểm mới, thú vị, đặc biệt cần lưu ý từ ‘lưỡng hội’.
Tổng quan
Mục đích của ‘lưỡng hội’ một phần là hiệp thương, một phần là làm công tác tuyên truyền trong ngoài nước, và hơn hết là xác định cũng như phổ biến phương hướng trong năm tiếp theo.
Thời điểm diễn ra Covid-19 là không thể tồi tệ hơn: Với nền kinh tế đầy sóng gió, năm 2020 là năm cuối cùng đẩy mạnh đạt ‘mục tiêu trăm năm lần thứ nhất’ là trở thành ‘xã hội khá giả trung bình’, nếu lượng hoá mục tiêu thì sẽ là gấp đôi thu nhập bình quân đầu người so với năm 2010. Tính chính danh của ĐCSTQ dựa chủ yếu vào việc có tiếp tục mang lại sự phồn thịnh hay không. Sự khá giả đi xuống đồng nghĩa với tính chính danh tụt giảm.
Covid-19 đã rút ngắn nhiều thứ (bao gồm báo cáo công tác của Lý Khắc Cường và buổi họp báo). Kết quả là, phần mục đích tuyên truyền của lưỡng hội đã trở nên quan trọng hơn. Mười một phần trăm thời lượng của báo cáo công tác là mô tả nỗ lực đối phó virus của Trung Quốc là tích cực và trách nhiệm. Thứ hai, và gắn liền với nó, thông điệp nhấn mạnh trong phần còn lại của báo cáo là ‘mọi chuyện vẫn bình thường’ mặc dù các thách thức là hết sức nghiêm trọng.
Nền kinh tế
Chủ đề trong những năm gần đây là ‘tiến bước trong ổn định (稳中求进 – ổn trung cầu tiến). Cụm từ này được nhắc lại, nhưng nhấn mạnh hơn trong việc bảo đảm ‘ổn định trên 6 mặt trận và giữ vững an ninh trên 6 lĩnh vực’. (Sáu mặt trận bao gồm việc làm, lĩnh vực tài chính, ngoại thương, đầu tư nước ngoài, đầu tư trong nước, và sự kỳ vọng. Sáu mặt trận là an ninh việc làm, nhu cầu sống thiết yếu, hoạt động của các thể chế thị trường, an ninh lương thực và năng lượng, chuỗi cung ứng và công nghiệp ổn định và hoạt động thường ngày của chính quyền cấp cơ sở). ‘6 ổn định’ có từ tháng 12 sau hội nghị thường niên cực kỳ quan trọng về công tác kinh tế, trong khi ‘6 giữ vững’ (hoặc ‘bảo đảm’) có từ sau hội nghị Bộ chính trị hồi tháng 4.
Dễ hiểu là, việc làm là mối lưu tâm đầu tiên của cả ‘6 ổn định’ và ‘6 bảo đảm’. Tất nhiên nó đã là mối lưu tâm từ lâu, bởi vì sự thiếu hụt về hệ thống an sinh xã hội đầy đủ và toàn diện đồng nghĩa với việc người thất nghiệp sẽ chống đối và trở thành mối nguy đối với sự ổn định cho ĐCSTQ. Trong nhiều năm, các văn bản đã nhấn mạnh đến sự cần thiết chăm lo vấn đề việc làm đối với 3 nhóm: Sinh viên tốt nghiệp, lao động từ nông thôn và cựu quân nhân (lần lượt là 8,74 triệu đốm lửa nhỏ, 280 triệu cọng cỏ khô, và 57 triệu cơn gió mà ĐCSTQ lo sợ sẽ gây ra cơn đại hoả hoạn). Vấn đề nữa là tăng cam kết để đưa 35 triệu người đi học nghề nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động.
Chuyến thăm đầu tiên của Lý Khắc Cường sau kỳ lưỡng hội năm ngoái là đến Hải Nam, nơi ông đến thăm một trường dạy nghề để cho thấy sự ủng hộ của chính phủ. Lĩnh vực tư nhân là mấu chốt đối với vấn đề việc làm, cung cấp 80 phần trăm việc làm ở thành thị, do đó, một lần nữa, nó nhận được sự ủng hộ về mặt chính sách từ thủ tướng, hoặc ít nhất là trên lý thuyết, tuy nhiên, việc vay được vốn từ ngân hàng lại là 1 vấn đề khác.
Lạm phát là một khía cạnh cốt yếu khác của sự ổn định: Nếu trong năm 1989, sinh viên là chất xúc tác trong phong trào biểu tình, thì tham những và lạm phát cũng góp phần kích động đông đảo các tầng lớp xã hội. Mục tiêu 3,5 phần trăm lớn hơn các lần trước. Nhiều nhà quan sát cho rằng đối với người dân bình thường, con số lạm phát thực tế vượt con số được công bố chính thức. Tỉ lệ lạm phát chính thức được công bố sau khi tăng vào cuối năm ngoái đã giảm phù hợp với mục tiêu đặt ra. Nhiều người dân rất nhạy cảm với sự tăng giá nhẹ, ngay cả trong những lúc ít căng thẳng như bây giờ. Đây là 1 chỉ số cần được theo dõi.
Mục tiêu tăng trưởng GPD lần đầu tiên không được nêu ra trong các báo cáo của lưỡng hội. Mặc dù không đáng tin cậy, nhưng nó là chỉ dấu chính trị quan trọng cho thấy quan điểm của ĐCSTQ trong các vấn đề phân bổ đầu tư hạ tầng, nợ và cải cách. Nói trắng ra là con số tăng trưởng GDP cao đồng nghĩa với ít cải cách hơn. Nó tượng trưng cho những gì quan chức phải đạt được, cũng là một lời cam kết gia tăng mức sống và việc làm cho người dân. Đối với năm nay (và nhiều khả năng nó sẽ quay trở lại trong tương lai), điều dễ nhận thấy là các đại biểu phải tập trung đến các vấn đề khác (ngoài tăng trưởng GDP) trong bối cảnh vấn đề Covid-19 đang bao trùm hiện nay.
Cải cách
Kiềng cải cách 3 chân của Tập Cận Bình lộ diện ngay sau khi kế nhiệm: 2013 (kinh tế và xã hội), 2014 (luật và tư pháp) và 2015 (quân đội). Họp lưỡng hội không chú tâm đến cải cách quân đội. Những gì được miêu tả trong năm nay về cải cách kinh tế một lần nữa lại hết sức hạn chế, mặc dù điều đáng lưu tâm là cải cách chính là làm cho hệ thống hoạt động hiệu quả hơn, thay vì thật sự thay đổi nó. Không một người nào tự nhận theo Chủ nghĩa của Lê-nin mà có thể sẵn sàng bỏ đi các công cụ về quyền lực kinh tế, do chúng kết nối trực tiếp đến quyền lực chính trị.
Các cam kết về cải cách kinh tế rất giống với việc ‘cắt và dán’ so với các lần trước. Không có điều gì mới về các lĩnh vực trọng yếu của doanh nghiệp nhà nước (DNNN). (Cam kết hoạch định một kế hoạch hành động 3 năm đối với cải cách DNNN gần 7 năm sau Hội nghị Trung ương lần thứ 3 là một điều không mấy tích cực, trong khi các thống kê cho thấy 70 phần trăm DNNN cấp trung ương và 50 phần trăm DNNN cấp địa phương hiện giờ thuộc ‘sở hữu hỗn hợp’ không thể mang lại kết quả như mong đợi nếu không có một định nghĩa rõ ràng về khái niệm DNNN). Vấn đề quan trọng là cách phân chia nguồn thu ngân sách và trách nhiệm chi tiêu giữa chính phủ trung ương và địa phương cũng ít được đề cập. Tuy nhiên, một điểm đáng chú ý là trái phiếu chính phủ giúp chính quyền địa phương đối phó hậu quả của Covid-19 sẽ không qua chính quyền cấp tỉnh và cấp cao hơn, mà sẽ được cấp trực tiếp xuống địa phương – một biện pháp thể hiện sự thiếu tin tưởng và tình trạng tài chính nghèo nàn của chính quyền cấp tỉnh.
Cải cách luật pháp, ngược lại, đã được đưa lên hàng đầu với việc thông qua Bộ luật dân sự (lần thứ 5, bắt đầu từ những năm 1950). Đây là thành tựu cực kỳ quan trọng và được mong đợi từ lâu trong nỗ lực của Tập Cận Bình để thiết lập một xã hội và môi trường kinh doanh được quản lý với ‘quy định bằng luật’ (rule by law, khác với rule of law – pháp quyền). Cần hết sức lưu ý đây không phải là bước đi đến ‘pháp quyền’. Điều này không hề làm xói mòn sự kiểm soát về luật pháp của ĐSC cũng như quyền của ĐCS trong việc can thiệp vào các vụ án nơi chính trị có tiếng nói sau cùng. Sự lạm dụng luật hình sự và nhân quyền nơi các quan chức trung ương và địa phương xem là mối nguy cho quyền lực của họ sẽ tiếp tục không thuyên giảm.
Nhưng cùng với cải cách tư pháp, Bộ luật dân sự cũng quan trọng trong việc giúp hoạt động trao đổi trong xã hội và thương mại dễ đoán hơn. Báo cáo môi trường kinh doanh năm 2020 của Ngân hàng thế giới (WB) cho thấy sự nhảy vọt đáng kinh ngạc trong thứ hạng môi trường kinh doanh của Trung Quốc, đặc biệt trong việc ‘thực thi hợp đồng, ‘’xử lý phá sản’ và ‘bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ và vừa’ và ‘chất lượng tiến trình tư pháp’. Nhờ vào việc các sự vụ được giải quyết bằng luật pháp tăng cao, Bộ luật dân sự sẽ định ra phương hướng rõ ràng hơn đối với hoạt động tư pháp. Nó cũng giúp ích cho các lĩnh vực khác như quyền sử dụng đất, thương mại điện tử và môi trường. Cuối cùng, Bộ luật dân sự tương thích với mục tiêu của Tập Cận bình là xây dựng người Trung Quốc kiểu mới và ứng xử xã hội thay đổi hướng tới sự tuân thủ lớn hơn về luật pháp, đạo đức, và tư tưởng.
Mở cửa
Cách diễn đạt không cho thấy động lực mới. Câu trả lời cuối cùng của Lý Khắc Cường tại cuộc họp báo là yêu cầu mở cửa lớn hơn, tự do hoá thương mại và thúc đẩy đầu tư, và các hạng mục tiêu cực phải được cắt giảm từ 48 xuống 40 hạng mục trên toàn quốc và từ 45 xuống 37 hạng mục trong các khu thương mại tự do (free trade zones). Nhưng bên cạnh Mỹ, ít có khả năng các quan ngại của EU về khả năng tiếp cận thị trường lớn hơn, thay đổi trong chính sách mua sắm công, việc mở cửa lớn hơn cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài và nhiều chính sách khác sẽ được đáp ứng.
Ba mặt trận cốt tử – các chủ đề yêu thích của Tập Cận Bình
Hai vấn đề được Tập yêu thích đã được thể hiện tốt bất chấp tác động của Covid-19 lên nền kinh tế. Giảm nghèo sẽ được thực hiện với tốc độ nhanh nhất hướng tới việc xoá bỏ nghèo đói vào cuối năm nay. Đây là cuộc thập tự chinh của Tập, cũng giống như một phần trong quyết tâm của Tập là nhận thức chính trị rằng bất bình đẳng thu thập, kể cả giữa các vùng, thành thị/nông thôn, hoặc cá nhân, có khả năng tiềm tàng tạo bất ổn sâu rộng. Nhưng giống như Lý Khắc Cường tiết lộ trong  cuộc họp báo, ngưỡng xoá đói nghèo hiện nay là thấp: 600 triệu người có mức thu nhập hằng tháng gần 1.000 nhân dân tệ, tương đương với 140 USD. Theo lời Lý, mức thu nhập này chưa đủ để thuê 1 phòng trong một thành phố tầm trung ở Trung Quốc.
Giảm rủi ro về tài chính tiếp tục giữ vững tầm quan trọng. Tuy nhiên, vấn đề môi trường có vẻ như bị xem nhẹ so với các lần trước. Điều này là bất ngờ vì Tập liên tục nhấn mạnh môi trường quan trọng và không thể tách rời tăng trưởng kinh tế, và thật sự là trong lần xuống thăm tỉnh đầu tiên sau khi lệnh giới nghiêm vì Covid-19 được nới lỏng, Tập đã đến thăm một khu sinh thái ở tỉnh Triết Giang và lặp lại khẩu hiệu của mình. Không giống như 2019 và 2018, khi ngân sách dành cho khắc phục ô nhiễm không khí, nước, đất được tăng 25%, 45,3%, và 42,9%, năm 2020 so với năm 2019 có mức giảm nhẹ đối với việc khắc phục ô nhiễm nước và đất, còn không khí thì giữ nguyên. Hơn nữa, trong báo cáo công tác của Lý thì nội dung liên quan đến môi trường bị cắt xuống còn vài câu, trong khi báo cáo năm 2019 thì dành nguyên một phần dài về vấn đề này. Rõ ràng, có khả năng lớn là vấn đề môi trường sẽ trở thành nạn nhân của Covid-19.
Mối quan ngại về Mỹ
Không có gì bất ngờ, mối quan hệ xấu đi với Mỹ được thể hiện rõ nét tại hội nghị năm 2019, nhưng dài hơn nhiều trong năm nay, kể cả độ dài và mức độ ưu tư. Vì vậy, nhiều lĩnh vực mà ĐCSTQ sợ bị tác động bởi việc ‘chia tách’ (decoupling) kinh tế đã được nhấn mạnh nhiều hơn. Sự hô hào đẩy mạnh đổi mới, ‘các động lực kinh tế mới’, tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học công nghệ và công nghiệp bậc cao nhấn mạnh yêu cầu Trung Quốc phải trở nên tự chủ hơn. Xu hướng này sẽ còn tiếp tục.
ĐCSTQ từ lâu đã theo đuổi chính sách an ninh lương thực, vốn hướng đến tự chủ các loại cây lương thực chính. Nới lỏng chính sách này là điều dễ hiểu về mặt kinh tế, nhưng sự gia tăng phụ thuộc vào Mỹ, sự dễ tổn thương của các tuyến cung ứng, và mối lo ngoại về dịch bệnh toàn cầu đang chiếm ưu tiên. An ninh lương thực có nguyên 1 đoạn trong báo báo năm nay và tầm quan trọng được nhấn mạnh. Cùng với an ninh năng lượng, nó tạo nên một trong ‘6 lĩnh vực an ninh’ hoặc ‘6 bảo đảm’ được nhấn mạnh kể từ khi bùng phát Covid-19 và được nêu bật nhiều lần trong báo cáo công tác năm nay.
An ninh và Quốc phòng
Mỗi năm, con số được thảo luận nhiều chính là ngân sách dành cho Quân giải phóng nhân dân TQ(PLA). Mức tăng 6,6% so với 7,5% trong năm 2019 cho thấy mức độ ưu tiên dành cho hiện đại hoá PLA bất chấp Covid-19. Điều mà các con số không thể hiện là sự chia rẽ giữa PLA và Cảnh sát Vũ trang dân dân (PAP). PAP cũng đã có thể nhận được tỉ lệ lớn hơn các lực lượng thông thường do vào tháng 4, một điều chỉnh trong luật PAP cho phép PAP nhận được nhiều nguồn lực hơn. Vai trò của PAP trong việc kiểm soát lực lượng bảo vệ bờ biển, vốn ngày càng trở nên bận rộn tại các vùng biển tranh chấp ở Biển Đông, phải đòi hỏi nhiều nguồn lực hơn.
Không thể biết được ngân sách an ninh trong nước. Chi tiêu cấp trung ương trong năm 2020 tăng 0,7% lên khoảng 183 tỉ nhân dân tệ, quanh mức chi năm 2019 và thấp hơn mức 204 tỉ năm 2018. Không giống với ngân sách cho PLA, ngoại trừ chi phí tuyển quân hoàn toàn được trung ương chi trả, phần lớn ngân sách an ninh thuộc về trách nhiệm của chính quyền địa phương. Do tăng các hoạt động kiểm soát, sự phát triển hệ thống giám sát dựa vào công nghệ đám mây (‘police cloud’), như các biện pháp ở Tân Cương, nhiều khả năng ngân sách an ninh trong nước sẽ tăng nhanh hơn so với báo cáo của Bộ Tài chính đề xuất.
Dự luật an ninh quốc gia (NSL) Hồng Kong là mảng tin chính của kỳ họp lưỡng hội. Nhiều khả năng, luật này sẽ được thông qua vào cuối tháng 6. Tiến trình này chắc chắc có liên quan với các cuộc bầu cử Hội đồng lập pháp (Hong Kong), dự kiến sẽ diễn ra vào tháng 9: cuối tháng 11 năm ngoái, các đảng ủng hộ dân chủ thắng lớn tại bầu cử hội đồng quận và ĐCSTQ muốn điều này sẽ không lặp lại. Nỗi lo sợ chính là NSL sẽ được sử dụng để cản trở các ứng viên không được ĐCSTQ chấp nhận. Các mối lo khác là: Hiệu ứng đối với ngành tư pháp (thúc đẩy pháp quyền là vô cùng quan trọng đối với sự phồn vinh của Hong Kong); sự tái thành lập các đơn vị an ninh đặc biệt đóng vai trò như cảnh sát và sự thành lập các cơ quan an ninh đại lục ở Hong Kong; và khả năng NSL sẽ lại mở ra vấn đề giáo dục quốc gia, vốn dẫn đến các cuộc biểu tình năm 2012. Khoảng cách giữa khẩu hiệu ‘Một quốc gia, hai chế độ’ và thực tế tương lai đang ngày một lớn.
Đài Loan được đề cập vừa phải trong các báo cáo của lưỡng hội. Nhưng sự vắng mặt của từ ‘hoà bình’ trong báo báo công tác khi nói về vấn đề thống nhất gây ra sự bất an đáng kể nhưng không cần thiết. Thủ tướng Lý vẫn sử dụng cụm từ ‘thống nhất hoà bình’ trong họp báo của mình. Đáng chú ý hơn, trong bài phát biểu tại hội nghị chuyên đề sau lưỡng hội để kỷ niệm 15 năm thông qua Luật chống Đài Loan ly khai, Lật Chiến Thư, ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, sử dụng cụm từ này 18 lần. Thống nhất bằng vũ lực không được ưu tiên hơn trước kia, nhưng chắc chắn Tập Cận Bình muốn củng cố sự đe doạ và cảnh báo sử dụng vũ lực với Đài Loan. Đó là một phần trong chiến lược nhằm đập tan ý chí kháng cự của Đài Loan.
Bỏ phiếu: dấu hiệu về sự kiểm soát chính trị của Tập Cận Bình
Bỏ phiếu tại lưỡng hội đúng chỉ là hình thức. Tuy nhiên, một dấu hiệu cho thấy sự sợ hãi trong việc phản đối Tập là trong suốt thời gian lãnh đạo của Tập, số phiếu chống, phiếu trắng, hoặc không bỏ phiếu đã giảm qua các lần tổ chức lưỡng hội. Các con số sau cho thấy số phiếu này trong các năm 2013 và 2020 – số phiếu của các năm trong khoản thời gian này đều hầu hết giảm trong các lần bỏ phiếu):
Báo cáo công tác chính phủ: 145 – 4
Báo cáo Uỷ ban Cải cách và Phát triển Quốc gia: 281 – 31
Báo cáo Bộ Tài chính: 636 – 55
Báo cáo Toà án Nhân dân Tối cao: 723 – 92
Báo cáo Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao: 606 – 75
Báo cáo Nhân đại: 211 – 11
Luật An ninh quốc gia Hong Kong: 8 (1 chống, 1 trống, 1 không bầu)
Đây là thông số minh hoạ cho việc đẩy mạnh kiểm soát và kỷ cương của đảng dưới thời Tập.
Một vài vấn đề (không) nhỏ
Điều thú vị khi đọc các báo cáo lưỡng hội là một vài chi tiết nhỏ mà không nhỏ, ví dụ:
– Dân số chính thức năm 2019 là 1,40005 tỉ, tăng 10 triệu dân so với năm 2018.
– Sản xuất thịt heo giảm 21,3% năm 2019. (Liệu có phải dịch tả heo châu Phi tác động lớn hơn cả Covid-19?)
– 20.000 chuyến tàu chạy từ Trung Quốc sang châu Âu năm 2019 (số lượng công-ten-nơ đủ cho 90 con tàu chở hàng lớn nhất hiện nay).
– 9,2 triệu sinh viên Trung Quốc nhập học đại học và 1,114 triệu nhập học sau đại học năm nay.
– Số vụ tham nhũng tăng 50,6% và khởi tố tăng 90%
– 10.000 doanh nghiệp mới khai trương mỗi ngày năm 2019. Mục tiêu năm 2020 là 20.000. (Tại buổi họp báo năm 2019, Thủ tướng Lý tuyên bố có 30.000 doanh nghiệp mới khai trương mỗi ngày, mặc dù báo cáo công tác chỉ nói là 18.000)
Kết luận
ĐCSTQ tăng cường tính chính danh bằng các tuyên bố mang lại sự thịnh vượng, quản trị công hiệu quả, và sự kính nể trên toàn cầu. Tất cả các chính trị gia toàn cầu đều làm nhẹ tin xấu liên quan phạm vi trách nhiệm của mình. Nhưng đối với ĐCSTQ thì rủi ro lớn hơn: Toàn bộ hệ thống, chứ không chỉ chính phủ, sẽ sụp đổ. Vì vậy, điều cấp bách là thuyết phục người dân và thế giới rằng bất chấp thiên nga đen Covid-19, mọi thứ đang dần đi vào quỹ đạo. Sân khấu chính trị lưỡng hội đóng góp một phần quan trọng vào điều đó.
Đối với những ai theo dõi Trung Quốc, điều này nghĩa là những phần tài liệu giàu thông tin nhất của ĐCSTQ là các ‘trang nói về các vấn đề còn tồn tại’. Ngay cả những trang này cũng được cắt ngắn lại dưới sự lãnh đạo của Tập. Nhưng 7 vấn đề lớn trong báo cáo Uỷ ban Cải cách và Phát triển Quốc gia đã tổng hợp đầy đủ những thách thức mà Trung Quốc phải đối diện trong năm tới: nhu cầu trong và ngoài nước sụt giảm; khó khăn của doanh nghiệp vừa và nhỏ; y tế công và các hệ thống phản ứng khẩn cấp; chậm đổi mới; thiếu tiến triển trong cải cách; nguy cơ trong các lĩnh vực trọng yếu, đặc biệt là tài chính; và sự thiếu hụt trong hệ thống an sinh xã hội.
Đây là những chướng ngại ghê gớm về mặt chính sách đối với Tập Cận Bình và ĐCSTQ.
Nguồn: Charles Parton, “What the National People’s Congress tells us about the challenges facing China” Sinocism, 25/6/2020.

2061 - Khu tưởng niệm Hoàng Sa, nỗi đau và chiếc “bánh vẽ” lòng yêu nước…


Khu tưởng niệm “Nghĩa sĩ Hoàng Sa” khởi công từ tháng 1/2016, hơn bốn năm qua, vẫn chưa động đậy. Các nhân vật liên quan đến công trình này phải kể đến ông Đặng Ngọc Tùng, Bùi Văn Cường, Nguyễn Đình Khang, đều là cựu và đương kim Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Nhưng liệu có phải chỉ có trách nhiệm của ba người này thôi?

2060 - Nạn Kỳ Thị Người Mỹ Gốc Á (Phần 3)

Time - Tác giả: Nguyễn Thanh Việt
Dịch giả: Ian Bùi - Tiếp theo phần 1 và phần 2

Nhân viên sở Di Trú phỏng vấn di dân Trung Quốc bị tình nghi là cộng sản hoặc thuỷ thủ trốn tàu ở Ellis Island, New York. (Bettmann Archive/ Getty Images)

III
Người Á đông nên ở Á châu, đó là nền tảng của sự kỳ thị bài-Á, không cần biết chúng ta đã sống ở đây bao nhiêu thế hệ hay chúng ta đã làm gì để chứng tỏ mình thuộc về xứ sở này dù không sinh ra tại đây. Đổ lỗi cho dân Á đông ở Á châu, hay ở những quốc gia không thuộc Á châu, vẫn là cách kỳ thị hiệu nghiệm nhất xưa nay; ở Mỹ nó bắt đầu từ thế kỷ 19.

2059 - Phỏng Vấn Nhà Văn Cung Tích Biền (Kỳ 4)


Kỳ IV.  Việc cầm bút, Cái-viết-ra, cũng là một Trả-Lời.


Sự cần thiết của việc nghiên cứu, phê bình trong văn học, tôi nghĩ rằng, “Một tác phẩm được một tác giả viết ra, mới là người đi... một chân rưởi, lúc được nhà phê bình ra tâm nghiên cứu, bình giải, là lúc đi đủ... cả hai chân. Độc giả đến với những tác phẩm lớn, cần một tầm cao tiếp cận, đều phải cần một ‘cây đèn bấm’. Đèn bấm ấy là nơi nhà phê bình”. 

- Phạm Viêm Phương: Riêng ông, mấy năm rời xa Việt Nam có khiến ông hụt hẫng như bị cắt khỏi nguồn chất liệu sống như nguyên liệu không thể thiếu cho sáng tác (như thần Antaeus mất sức mạnh khi rời khỏi mặt đất của mẹ hắn là nữ thần Đất Gaia) không? Nếu có thì ông vượt qua cảnh này như thế nào?

Cung Tích Biền: Hỏi rằng “...rời xa Việt Nam có khiến ông hụt hẫng như bị cắt khỏi nguồn chất liệu sống như nguyên liệu không thể thiếu cho sáng tác...”, thì tôi chưa hiểu hết, hoặc có thể hiểu lầm, giữa “chất liệu sống”, và chất liệu “sống”. 

Tôi hiểu, “chất liệu sống” là cái luôn xảy ra trong đời sống; chất liệu “sống”, cũng là những tương tác ấy, nhưng mình được trực tiếp tham dự không qua chế biến. Thịt sống là thịt chưa qua nấu nướng. Tiền tươi [sống], là tiền mặt đưa trực tiếp tay trao tay, không thông qua chi phiếu, hoặc chuyển qua trương mục ngân hàng của nhau. Chất lượng “sống”, là cái trực tiếp nhìn thấy, trực tiếp tham dự, không thông qua các hình thức kể lại, tường thuật hình ảnh.

Trong một thế giới “ảo” của hôm nay, mọi thông tin đều được toàn cầu chia sẻ trong từng phút giây, rất chi tiết, rất rõ thật qua từng lời nói, hình ảnh, từng con số. Tại Việt Nam, người hâm mộ có thể xem trực tiếp một trận bóng đá bên tận xứ Âu châu, Nam Mỹ, chỉ vài giây ngay sau khi trái bóng lăn trên sân. Bất kỳ một nơi nào trên trái đất cũng có thể theo dõi từng giờ con virút corona tác hành như thế nào, số người nhiễm bệnh, số người chết, thậm chí giá một cái khẩu trang nơi nào tăng cao nơi nào vẫn giữ nguyên giá bán. Bất cứ tình tiết, tình hình gì ở trong một nước, người nước ngoài vẫn có nhiều phương cách, phương tiện, kênh thông tin, để theo giỏi sát rạt. Như thế, người cầm bút chẳng mất đi đâu, “nguồn chất liệu sống, như nguyên liệu cho sáng tác...”. 


Những gì cần biết về một sự vụ thì hãy còn nguyên đó. Chỉ thiếu một tác động quan trọng, nòng cốt nhất cho một nhà văn, là “chứng nghiệm tại chỗ”, chất liệu “sống”, mà thôi. “Mất đi cái trực tiếp, cái sức nóng va chạm thời sự tại hiện trường”, là mất đi một nửa cảm hứng, sức viết, mặc dù văn chương có là trên nền của một phần hư cấu. Ngồi ngay chỗ khán đài xem một cuộc đấu võ, một trận bóng đá, chất liệu “sống”, hẳn khác xa với khi xem tường thuật, sau đó.

Chạm một vết thương của một người thân yêu, nhìn rõ dòng máu đang chảy, sờ vào máu đỏ, máu thấm đầu ngón tay mình, cảm xúc ấy, sự chia sẻ ấy, là rất khác khi từ xa, khi sau đó, mới được xem qua một lá thư kể lể cảnh tình, hay một đoạn clip vidéo quay vội.

Nói gọn, một người cầm bút, là phải tham dự; viết lại cái-mình-đã-có-mặt. Phải là kẻ trực kiến, từng chứng nghiệm. Những nhà văn khi thoát ly ra khỏi nước, viết được những tác phẩm lớn, chẳng phải chỉ do rặt tưởng tượng, thuần hư cấu, mà cốt căn tiên khởi, là chính họ phải/bị/đã từng là người-có-mặt.

Sống tại Việt Nam, cõi Quê nhà, mới viết thấu những gì từ Quê hương. 

Ra Đi, sự hụt hẫng đeo đẳng, có thể là vậy.

Người cách xa quê nhà lâu ngày, dần dà quên đi sự mệt mỏi đương đầu tại chỗ; bị tiêu triệt sự mơ tưởng một cuộc đào thoát cái địa ngục khốn cùng, một tác động sống còn. Có thể, đã nói,“Nơi nào có tự do, nơi ấy có quê hương”. 

Đương nhiên tôi tôn trọng mọi phát biểu, nhưng tôi xin phép được hiểu theo quan điểm của tôi, về phát biểu trên. Quê hương, như thế, đã như một điều kiện sống. Nơi nào tôi có tiền của, tôi có nhà cửa, có hạnh phúc.

Bấy giờ, Việt Nam-Quê hương, chỉ là một nơi cư ngụ bình thường, như từng cư ngụ trên đất Pháp, đất Mỹ, chẳng một phút băn khoăn nào về sự mất mát, xa lìa. Mẹ đẻ ra, lần chôn nhau cắt rốn sẽ được xem là bình thường, chỉ là nơi xảy ra một sự kiện, như một dịp lãnh văn bằng tốt nghiệp thời du học, mà thôi. 

Quê hương, bấy giờ, không là nơi an nghỉ tổ tiên, chẳng là nơi dấu máu, mồ hôi của lịch sử, của vi diệu vô hình, từ đó anh có bộ gen truyền nòi.

Nghĩ vậy, Việt Nam, cho cùng, chỉ là một cái tên trên bản đồ, để xác định vị trí một lãnh thổ. Như một con người phải là Y hay Z. Thông minh, ngu đần, cũng là nó. Lành mạnh hay què cụt, đau nằm liệt giường đời sống thực vật, cũng là nó. Việt Nam chống nạng, Việt Nam tâm thần, cũng là Việt Nam, một cái tên mà thôi.

“Nơi nào có tự do nơi ấy quê hương tôi”, một cuộc bức tử Việt Nam - Quê hương ra khỏi nhau. “Việt Nam quê hương tôi”, đã hoàn toàn vô nghĩa. 

Phạm Viêm Phương:Vậy thưa ông, mặt trái của câu trả lời là thế nào? 

Cung Tích Biền: Trong câu hỏi của anh có cụm từ “mặt đất của mẹ hắn”. Tôi hiểu là, “Đất Mẹ”. Nếu gọi là Đất Mẹ, ta sẽ nhận ra một cái Thương-nhớ-đáng-rùng-mình. Cuộc rùng mình rung chuyển tâm linh. Nó nấu nhuyễn cái thực tế thực dụng, trần trụi thô thiển, cái mừng-vui-cập-nhật của anh, để hiện ra trong anh cái thế-giới-hiển-linh. Khi hô hoán “Đất Mẹ’, âm vang này nó rủ rê ta nghĩ tới “Hồn Nước”. Một trực nghĩ xao xuyến, chạnh lòng.

Ở đây là một chuyển đổi trầm trọng về nội tâm, giữa Tối và Sáng. Giữa Xác-định hay Nghi-hoặc về một thận phận làm người. 

Nó đòi hỏi anh, định nghĩa một “từ”, phải đủ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Nghĩa đen thì rõ, nghĩa bóng nơi đâu?

Tôi sống dài lâu, sống giữa đời thực với thằng người có họ tên trong tờ khai gia đình, và sống trong/với những nhân vật bàng bạc tử sinh trong tác phẩm của tôi. Hai “đứa” này đồng cảm, thân thiết cùng nhau. Cả hai, thực-ảo, đang rất bâng khuâng hai cụm từ, Việt-Nam-tôi với Quê-hương-tôi chỉ là một, hay là hai cái-gì-đó khác nhau.

Có khi tôi ở Việt Nam nhưng không nghĩ đây là chốn Quê hương. Tôi và hầu hết nhân vật của tôi trong truyện, ai nấy đều nhận thấy, và đều an phận, “Mình là kẻ tha hương ngay trên quê hương”. 

Lại có khi mình đang ở nước nhà, nhưng chừng, đây không phải là Việt Nam? 

Trong cái tình yêu thiêng liêng ấy đang ẩn kín một nỗi đau cũng không thiếu chân thành, “Việt Nam hôm nay có phải là Việt Nam của chúng ta?” Một nhạc sĩ trẻ đã gào thét, “Việt Nam tôi đâu?”

Khi than van,“Là kẻ tha hương ngay trên quê hương”, hẳn là hắn đang có một Quê hương? Khi gào thét, “Việt Nam tôi đâu?”, hẳn là đã từng có một Việt Nam? Chỉ Đất Mẹ ấy, nay đang trong cuộc dày vò phân mảnh, vong thân; đã mất dấu vì bị đánh tráo.

“Việt Nam tôi đâu?” Có thể, một hồn thiêng hun hút, xa mờ, nay đành trả lại cho tổ tiên. Có thể, Việt Nam là một nền Cộng Hòa, nay đã 45 cái giỗ kỵ”.

Anh ạ, một tác phẩm văn chương được hình dựng, tác giả ấy không chỉ có giấy mực, một nguồn chất liệu thực tế, và một mớ suy nghĩ đơn thuần trong trí não. Tác giả ấy phải cần mở rộng tưởng thức, tâm linh, phải man mác hóa thân trong cái thế giới diệu tưởng, huệ tâm. “Chúng ta, sống trên Đất Việt, sống cả trong Hồn Việt”.

Phạm Viêm hương: Giang hồ thường nói, người sáng tác vừa cần có vừa khó chịu với nhà phê bình. Như vậy, trong đời, ông thấy thú vị, và thấy thất vọng, nhất với bài viết phê bình hay nhận định nào về tác phẩm của ông? Nếu không tiện nêu tên tác giả hoặc bài viết thì xin ông nói qua nguyên nhân khiến ông có cảm xúc đó.

Cung Tích Biền: Đúng vậy, có một số nhà sáng tác rất “ớn” nhà phê bình. Ngược lại nhà phê bình cũng “hơi bị ớn” nhà sáng tác. Phê bình, chỉ được khen không được chê bai. Ông có là sui gia, là đồng chí, cũng không chơi với ông nữa.

Tôi nghĩ khác, một tác phẩm khi đã được công bố, là một Lên-đường-gió-bụi, khen chê là chuyện bình thường.

Sự cần thiết của việc nghiên cứu, phê bình trong văn học, tôi nghĩ rằng, “Một tác phẩm được một tác giả viết ra, mới là người đi... một chân rưởi, lúc được nhà phê bình ra tâm nghiên cứu, bình giải, là lúc đi đủ... cả hai chân. Độc giả đến với những tác phẩm lớn, cần một tầm cao tiếp cận, đều phải cần một ‘cây đèn bấm’. Đèn bấm ấy là nơi nhà phê bình”. 

Đây là nói về sự công minh chính trực giữa đôi bên. Cần thiết một phẩm hạnh, trí lực và ôn hòa khi tới với nhau.

Một nền văn học sẽ chịu nhiều thiệt thòi, một trầm trọng gieo rắc, ấy là lúc thiếu những nhà phê bình tử tế, uyên bác, thông tuệ, công tâm và khách quan khi cầm bút. 

Ngoài việc giới thiệu, luận phê, bình giải, soi sáng các ngõ ngách một tác phẩm của nhà văn, nhà phê bình còn là một Mở Đường, để nhà văn thêm cảm hứng, nhiều kinh nghiệm cầm bút, về sau. Ngược lại, với những nhà văn có phẩm hạnh và nghiêm túc, tác phẩm của họ có nội dung tư tưởng, cưu mang sự kiện lịch sử, thể hiện thẩm mỹ thời đại, nhu cầu nhân văn, cũng là một tác động mạnh mẽ khiến các nhà nghiên cứu, phê bình khó làm ngơ. Phải động bút thôi. Không cứ là chỗ thân quen mới áo thụng vái nhau.

Một nền văn học ở thời hoàng kim rực rỡ, sẽ có những nhà văn lớn, có các nhà phê bình tầm cỡ, đúng danh xưng. Họ cùng sống trong mỗi phẩm cách, tôn trọng lẫn nhau; hòa điệu, tương đồng, soi sáng lẫn nhau. 

Trong đời văn của tôi có một may mắn. Thời kỳ trước 1975 cũng như sau này, hầu hết các ý kiến ngắn, các bài viết trên các báo, từ các nhà văn, Chu Tử, Võ Hồng, Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Du Tử Lê, Phan Huy Đường, Hồ Nam, Lam Kiều, Viên Linh, Khánh Trường, Chu Vương Miện, Trần Tuấn Kiệt, Trần Doãn Nho, Lê Hữu, Nguyễn Vy Khanh, Trần Hoài Thư, Nguyễn Lệ Uyên, Vương Trùng Dương, Đặng Phú Phong, Nguyễn Liệu, Chu Vương Miện, Nguyễn Đình Bổn, Việt Yên Lê, Nguyễn Lương Vị, Châu Đăng Long.... đến những Đặng Thơ Thơ, Đinh Từ Bích Thúy, Hoàng Ngọc Thư, Phục An, Ban Mai, Ý Nhi, Ngô thị Kim Cúc, Lý Đợi, Thận Nhiên, Trần Vũ, Phùng Nguyễn, Nguyễn Đức Tùng, Tuấn Khanh, Nguyễn Văn Thiên, Lưu Nhi Dũ, Nguyễn Tấn Cứ, Trần Tiến Dũng, Huỳnh Ngọc Chiến... các ý kiến nhận xét, các bài viết dài ngắn về tôi, đều rộng lòng chia sẻ sự thành tựu chung của văn chương.

Đặc biệt, một số trong ấy có bài viết rất dài, những tiểu luận về văn chương của tôi đều đến từ, những người tôi không hề quen biết, hoặc có nghe tên tuổi nhau nhưng chưa bao giờ có một lần hân hạnh gặp mặt, chưa một lần thư tín, trao đổi gì, trước đó. Những bài viết nhiều tìm tòi, nhận xét công phu, rõ ràng người viết đã đọc của tôi rất kỹ lưỡng, có chủ tâm viết bài; thái độ sòng phẳng, khách quan, không vì giao tế. 

Năm 1993, Nhà xuất bản Tân Thư in tập truyện Thằng Bắt Quỷ, gồm các truyện của tôi đã đăng trên tạp chí Hợp Lưu cùng vài truyện viết trước 1975. Ngay sau đó xuất hiện bài viết của Dịch giả Phan Huy Đường, ký tên Trần Đạo, tựa đề Thằng Bắt Quỷ, Ba mươi năm nung nấu một ngọn lửa [bài đăng trên tạp chí Hợp Lưu, số đặc biệt về nhà văn Mai Thảo]. Gần một năm sau tôi mới nhận được một thư tay, từ Paris của ông. Sau thủ tục thăm hỏi, ông đề nghị, và đã dịch tác phẩm của tôi sang Pháp ngữ. Trải mấy mươi năm, rất mong được gặp mặt nhau, dzô một ly rượu, ông đã qua đời năm 2019 tại Paris.

Tháng Ba năm 2008, tôi nhận được một thư của một Kẻ Xa Lạ, nhà văn Đặng Thơ Thơ. Cô thông báo với tôi là Ban Biên tập tuần báo mạng Văn chương Không biên giới Da Màu sẽ thực hiện một số Đặc biệt Văn chương Cung Tích Biền. Số đặc biệt này khá phong phú, từ 23 đến 28 tháng 8-2008. Cô là chủ biên, viết bài nhận định, có thêm một bài phỏng vấn 4 [bốn] triền miên phiêu bồng dài dặc. Hai năm sau, nhân dịp cô từ Mỹ về thăm Sàigòn, chốn quê hương lần đầu tiên tôi mới gặp cô. 

Trong số báo trên của Da Màu, có bài của Nhà văn Dịch giả Đinh Từ Bích Thúy, tựa đề, Phẩm tiết Cung Tích Biền, nhìn thẳng vào mặt trời và cái chết. Đây là một thiên khảo luận công phu, nghiêm túc. Phải mười năm sau, 2018, lúc tôi sang Mỹ, lần đầu tiên mới gặp được cô, nhân dịp buổi Tưởng niệm Nhà văn Phùng Nguyễn. Lần đầu tiên gặp gỡ, cũng là duy nhất, cho tới nay. 

Các bài viết của các nhà văn Nguyễn Vy Khanh – Cung Tích Biền, những năm 2000; Ban Mai -- Cung Tích Biền và Xứ Động Vật Màu Huyết Dụ; Đặng Châu Long; – Khi nụ mai tàn em Bay; là những tác giả tôi mới gặp lần đầu, tôi tặng sách, họ đọc và viết, một tự nhiên, trong sáng, vậy thôi. 

Đặc biệt nhà văn Lê Hữu, cũng là một Kẻ Xa Lạ đối với tôi, chưa một lần gặp gỡ sơ giao, không thư từ qua lại, cho tới khi tôi đọc được một bài tiểu luận dài, rất công phu của ông, Cung Tích Biền Giấc Mộng Rỗng Không. Bài được đăng trên mạng Da Màu, www.damau.org, thể hiện người đọc, đọc thấu tận, thấy rõ ruột gan của nhà sáng tác.

Tự cổ kim, trong gió mây tương hợp đã nảy ra cái từ “tri âm”, cây cầu huyền diệu gây hương, nối tình. Là nòi tình mới tìm tới nhau. Là nhận ra hương mới tới cùng nhau. Tử Kỳ có hai cái lỗ tai, một hồn thấu thị từ trong núi. Bá Nha có đôi bàn tay, những ngón tay thần, gởi tiếng đàn trên sông. 

Trong văn chương cũng vậy thôi, có chỗ tri kỷ. Ngoài cái “xác chữ”, còn “hơi chữ”, “hồn chữ”. Hơi chữ gợi hương. Hương đi xa, người tới gần. Hồn chữ là nơi thoát - thường. Là cái yên ba mờ mịt, cực kỳ biến hóa chỗ-vô-hình-tướng. Nó trói buộc kẻ lẳng lơ sẽ trót trôi theo dòng, một dòng hư ngộ. Qua hư ngộ là chạm trực ngộ, “Hồn chữ”.

Rồi tôi phải trở về chỗ thế gian thường tình, ngồi vào bàn viết.

Với tôi, qua những chia sẻ nặng tình từ bá phương đổ về, đều là niềm vui, là Vào Ngõ Hạnh, không có chi phải phiền lòng.

Qua cuộc phỏng vấn này, tôi xin được cảm ơn tất cả, những tâm hồn, những tương ngộ, những bãi bờ cỏ xanh nước rộng. 

Phạm Viêm Phương: Ông nghĩ gì về cuộc trò chuyện này?

Cung Tích Biền :

Rằng hay thì thật là hay
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay trong lòng. 

Thưa, Cụ Tiên Điền Nguyễn Du đã nói trước cho nỗi lòng của kẻ hậu thế đấy ạ.

Phạm Viêm Phương: Thưa ông, nói tới “ngậm đắng nuốt cay”, tôi chạnh lòng và muốn hỏi thêm ông một câu, cũng khá quan trọng. Câu này khá tế nhị, ông có thể trả lời, hoặc vẫn giữ tự đáy lòng, như bấy nay, thì tùy. 

Cung Tích Biền: Lại gì nữa đây?

Phạm Viêm Phương: Sau biến cố 30 tháng Tư, 1975, chúng tôi biết ông ở lại trong nước, đời sống khó khăn mọi bề, ông vẫn đầy bản lĩnh bỏ ngoài những thị phi, những “Lời ra tiếng vào” rất có hại tới uy tín của ông, để bình thản tiếp tục cầm bút. 

Những gì ông viết, sau này, chứng tỏ ông đã có một thái độ rõ ràng với chế độ mới và thành tâm chia sẻ những thiệt thòi, đau khổ một thân phận chung của Miền Nam, trong đó có ông. 

Ngay những gì ông viết trước 1975 cũng đã tỏ rõ thái độ chính trị của ông, tiêu biểu là truyện ngắn Bạch Hóa, ông viết từ 1968. Nội dung truyện có nhân vật Sáu Vu từ rừng núi trở về lập tòa án nhân dân xử tội cha của mình. Rồi, chính Sáu Vu thi hành nhiệm vụ cách mạng, là vung mã tấu chặt đầu người cha của mình, chỉ vì ông ta có một chức vụ nhỏ nhoi, một chủ tịch xã của chính thể Việt Nam Cộng Hòa.

Sự việc là như thế. Vậy, đâu là điều bí ẩn, khó tỏ lòng. Chúng tôi nghĩ, đến nay cũng đã 45 năm trôi qua, bao nhiêu nước đã qua cầu. Mong ông cho biết thực hư những dư luận không tốt về ông trong ngày xảy biến cố ấy?

Cung Tích Biền: Cảm ơn anh về câu hỏi. Cảm ơn thịnh tình muốn chia sẻ. Tuy nhiên câu trả lời rất tường tận của tôi về sự vụ này, tôi mong anh lưu giữ trong ngăn kéo, như một kỷ niệm, cuối đời tặng anh. Vậy xem như tôi xin phép, không trả lời câu này, tại đây.

Chỉ là bèo trôi xô đẩy:

Tôi, tự thâm tâm muốn “sống để lòng, chết mang theo”. Thêm một chút bí ẩn đời người. 

Bốn mươi lăm năm trôi qua, tôi không tỏ bằng lời, mà tận tụy làm việc. Việc cầm bút, Cái-viết-ra, cũng là một Trả-Lời.

Bốn mươi lăm năm, những vu cáo, gia oan đổ vạ cho tôi, thêu dệt những điều không có thật, thì bạn bè, độc giả, người đời đã hiểu cho tôi, minh oan cho tôi rồi. 

Non nửa thế kỷ trôi qua, đến hồ sơ bí mật quốc gia còn được giải mã, huống chi chuyện riêng tư mỗi con người. Tất thảy đã/sẽ sáng tỏ.

Tôi yêu mến sự đoàn tụ, lòng hỉ xả. Tôi không là một con người trọn đời là Một Hoàn Hảo. Tôi khiếm khuyết và khập khiễng, nên luôn mong chờ “Nụ cười khi đến với nhau”.

Phạm Viêm Phương: Xin cảm ơn ông, nhà văn Cung Tích Biền, đã thật lòng bạch hóa những riêng tư, và cho những kinh nghiệm đã từng trải trong nghề cũng như trong cuộc sống hơn tám mươi năm qua bao thăng trầm của lịch sử. Thật là những bài học quý giá.

Cung Tích Biền: Thành thật cảm ơn anh, Dịch giả Phạm Viêm Phương, một cách nào đó để tôi có dịp trải tấm lòng. Anh quả là một “bác sĩ” lắm tài mổ xẻ.

Phạm Viêm Phương: Lần nữa xin được chúc mừng ông. Rất vui khi thấy ông, một cụ tóc trắng đã ngoài tám mươi tuổi, vẫn còn rất minh mẫn, tâm trí lực rất dồi dào. Có thể, cách trả lời của ông khá nhã nhặn, vừa minh bạch vừa khiêm tốn; thêm, là sự hóm hỉnh hài hước đậm chất u mặc nơi ông, đã giữ ông gần gũi với chúng tôi, và giữ ông nán lại lâu dài với cuộc đời.

Cung Tích Biền: Đại ca ôi, tôi được Bà Mẹ đẻ ra vào đầu năm 1937, Đinh Sửu, đích thị tuổi Con Trâu, một loài cần cù, chậm chạp. Đường đời trôi vút, truông đèo cao thấp. Bát ngát khỉ vượn, âm binh, là bạn cùng chung bình sinh hít thở với ta. Mùi cười của ta mùi khỉ. Trai gái yêu nhau, tỏ tình cùng nhau bằng ngôn ngữ vượn hú.

Bao năm, đời nó bỏ tôi vào cái lò thuộc da. Nước nó sôi dữ lắm. Lại được căng ra phơi nắng dữ.

Tôi, nay là miếng da trâu khô, được căng lên miệng trống. Nó rất đỗi im lìm. Nó kêu lên một đôi tiếng, khi ai đó sẵn cái dùi. Rồi nó lại im lìm. 

Phỏng vấn ư? Đại ca gõ. Tôi kêu. Rồi tất cả, trong tôi, trở về với im lìm. Một Rỗng Không. Lòng Trống.

Phạm Viêm Phương: Xin chúc ông mọi sự an lành.

Cung Tích Biền: Đa tạ, Đại ca.

[kỳ III - 3.730 chữ]

Midway City. Kết thúc, 28-3-2020



Ghi chú của Người Phỏng vấn:

* Có một câu hỏi, Nhà văn CungTích Biền đã trả lời tường tận, nhưng ông muốn tặng cho Người phỏng vấn được riêng giữ trong ngăn kéo làm Kỷ niệm. 

** Bài Phỏng vấn khởi từ ngày 28-1-2020, và kết thúc vào ngày 28-3-2020, được thực hiện qua điện thư và điện thoại viễn liên giữa Quận I thành phố Sàigòn và Midway City, Quận Cam, California. PVP.

2058 - Thế giới hôm nay: 01/07/2020



Anh, EU và NATO bày tỏ lo ngại sau khi quốc hội Trung Quốc thông qua luật an ninh quốc gia mới đối với Hồng Kông. Luật này, được chính quyền Hồng Kông thông qua vào tối muộn, cấm hoạt động lật độ, khủng bố và thông đồng với các thế lực nước ngoài, đồng thời có hiệu lực ngay lập tức. Các nhà hoạt động ủng hộ dân chủ sẽ phản đối vào hôm nay. Demosisto, một đảng chính trị ủng hộ dân chủ, tuyên bố ngừng mọi hoạt động. Theo luật mới, các nhà hoạt động có thể đối mặt với án tù chung thân hoặc dẫn độ về đại lục.

2057 - Vụ SBD bị World Bank cấm vận vì gian lận có đủ làm gương cho doanh nghiệp khác ở Việt Nam?


Một trụ sở của Công ty Cổ phần Công nghệ Sao Bắc Đẩu (SBD) tại TP.HCM.
Một trụ sở của Công ty Cổ phần Công nghệ Sao Bắc Đẩu (SBD) tại TP.HCM.


SBD thừa nhận có sai phạm

Hai ngày sau khi World Bank-Ngân hàng Thế giới công bố thông báo cấm vận đối với Công ty Cổ phần Công nghệ Sao Bắc Đẩu (SBD) trong 7 năm, công ty này qua các phương tiện truyền thông báo chí tại Việt Nam đăng tải công khai thông tin đã để xảy ra vi phạm trong quá trình đấu thầu 2 dự án mà Worrld Bank cáo buộc là thông đồng và gian lận.
Trong thông báo phổ biến vào hôm 24/6, World Bank cho biết SBD đã gian lận và lừa đảo trong Dự án phát triển thành phố bền vững Đà Nẵng-BRT trị giá 272 triệu USD, hồi năm 2018 và Dự án phát triển giao thông đô thị Hà Nội-BRT có giá trị 295 triệu USD, hồi năm 2015.
World Bank cáo buộc nhân viên của SBD đã bị phát hiện làm ảnh hưởng không đúng đến quy trình đấu thầu của hai dự án nêu trên, do Ngân hàng Thế giới tài trợ cho Việt Nam. Công ty SBD đã tạo tài liệu giả mạo trong hồ sơ dự thầu và không cung cấp thông tin chính xác về sự tham dự trong giai đoạn khởi đầu của hai dự án. Đây là những hoạt động được coi là thông đồng và gian lận.
Việc làm bị cho là thông đồng và gian lận trong hai dự án của SBD dẫn đến hậu quả SBD bị cấm vận 7 năm không được tham gia đấu thầu các dự án, mà đủ điều kiện thực hiện cấm vận chéo giữa các ngân hàng phát triển đa phương khác, theo Thỏa thuận Thi hành các Quyết định Tranh chấp được ký kết vào ngày 9/4/2010.
Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Thương mại Luật gia Việt Nam (VLCAC), vào tối ngày 29/6 cho biết theo quy định của luật pháp tại Việt Nam thì các hành vi thông đồng và gian lận trong đấu thầu bị chế tài theo Luật Đấu thầu năm 2013. Luật sư Nguyễn Văn Hậu đưa ra một dẫn chứng:
“Ví dụ Điều 89 của Luật Đấu thầu và Chính phủ cũng ban hành nghị định về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân vi phạm về đấu thầu mà cấu thành tội hình sự và đối với cán bộ, công chức có hành vi vi phạm pháp luật đấu thầu còn bị xử lý theo quy định của pháp luật đối với công chức. Và, trong Luật Đấu thầu còn có luật riêng, đó là hình thức cấm tham gia lựa chọn nhà thầu. Có thể cấm từ 1 đến 3 năm, hoặc cấm tham gia đấu thầu từ 6 tháng đến 1 năm, hoặc không công nhận đấu thầu của doanh nghiệp nếu như doanh nghiệp đó có gian lận.”
Luật sư Nguyễn Văn Hậu nói với RFA rằng ông không rõ phía Chính phủ Việt Nam sẽ xử lý trường hợp xzsai phạm của SBD qua hai dự án BRT Đà Nẵng và Hà Nội theo quy định pháp luật của Việt Nam như thế nào. Tuy nhiên, Luật sư Nguyễn Văn Hậu nhấn mạnh rằng SBD đã tỏ ra thành khẩn và rất có thiện chí hợp tác với World Bank để giải quyết những sai phạm do nhân viên của SBD gây ra.

Hợp tác trong giải quyết hậu quả

Báo giới trong nước, vào hôm 27/6 dẫn thông tin của SBD cho biết công ty này đã làm việc với World Bank trong hai năm 2019-2020 để làm rõ những sai phạm đã xảy ra. SBD nói rằng World Bank ghi nhận sự phối hợp của SBD và cũng đồng ý các việc làm sai trái không phải là sự chỉ đạo của lãnh đạo công ty.
SBD cho biết là đã rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc trong việc tham gia các dự án quốc tế, đồng thời thực hiện tốt các cam kết giữa hai bên và theo hướng dẫn tuân thủ liêm chính của World Bank (WBG Integrity Compliance Guidelines) để tạo sự tín nhiệm đối với Ngân hàng Thế giới nhằm có thể sẽ giảm bớt thời gian cấm vận xuống ít hơn 7 năm.
Luật sư Nguyễn Văn Hậu cho rằng qua vụ việc của SBD cho thấy đó cũng là một bài học kinh nghiệm về uy tín trong giao dịch, làm ăn của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng mở rộng trên thương trường quốc tế.
World Bank công bố thông báo cậm vận SBD 7 năm, vào ngày 24/6/2020.
World Bank công bố thông báo cậm vận SBD 7 năm, vào ngày 24/6/2020. Courtesy: vietnamnet.vn
Tiến sĩ kinh tế Lê Đăng Doanh, cựu thành viên Ủy ban Chính sách Phát triển của Liên Hiệp Quốc, vào tối ngày 29/6 cũng lên tiếng với RFA liên quan vụ việc World Bank cấm vận SBD 7 năm không được tham gia đấu thầu các dự án do nhóm ngân hàng này tài trợ:
“Tôi nghĩ là việc Ngân hàng Thế giới ở Việt Nam đã xử lý một cách nghiêm khắc đối với công ty này là một điều cảnh báo đối với các doanh nghiệp khác. Và điều đấy sẽ giúp cho các doanh nghiệp khác chân chỉnh lại và tuân khủ các quy định công khai minh bạch, cũng như tránh những việc mà Ngân hàng Thế giới đã phát hiện ra đối với SBD. Tôi nghĩ rằng đây là một điều tích cực để giúp cho các công ty Việt Nam rút kinh nghiệm. Và, không có nghĩa rằng về sau các công ty Việt Nam sẽ bị gây khó khi tham gia đấu thầu đối với Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam.”

Cơ hội nào cho Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam?

Đồng quan điểm với Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Huy Vũ, qua ứng dụng messenger nêu lên nhận định của ông rằng các doanh nghiệp ở Việt Nam nhìn vào vụ việc của SBD như một tấm gương để muốn làm ăn lâu dài, đàng hoàng với các đối tác quốc tế thì phải gây dựng uy tín, làm việc chuyên nghiệp, và phải tuân thủ sự minh bạch và cạnh tranh lương thiện. Dần dần, cùng với sự mở cửa của nền kinh tế Việt Nam với các đối tác nước ngoài, phong cách hoạt động chuyên nghiệp kiểu này sẽ trở thành một chuẩn mực chung của giới công ty tại Việt Nam.
Tiến sĩ Nguyễn Huy Vũ nhấn mạnh rằng:
“Khi mà giới doanh nhân tại Việt Nam trở nên chuyên nghiệp hơn, quen với việc cạnh tranh công bằng, bình đẳng và minh bạch trong các hoạt động đấu thầu, thì đến lượt họ sẽ tác động lên các quy trình hoạt động của các cơ quan chính quyền, tạo nên áp lực khiến chính quyền phải thay đổi cách đấu thầu và các hoạt động quản lý khác. Rồi từ từ, khi xã hội quen với văn hoá minh bạch, cạnh tranh công bằng và lành mạnh thì các cơ chế chính quyền sẽ theo đó hình thành nên nhằm giảm đi thói quen gian dối, tham nhũng, giúp cho xã hội ngày càng công bằng và văn minh hơn.”
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cũng xác nhận “bài học kinh nghiệm” của SBD cũng mở ra một cơ hội cho Chính phủ Việt Nam trong nỗ lực cải cách hành chính để giúp cho các doanh nghiệp hoạt động được hiệu quả hơn:
“Các công ty Việt Nam có sự tiến triển như thế nào trong quản trị thì phụ thuộc rất nhiều cách hành xử của các cơ quan Nhà nước của Việt Nam. Trong trường hợp này, việc bỏ các giấy phép và thực hiện công khai minh bạch sẽ giúp rất nhiều. Bởi vì, không có doanh nghiệp nào lại tự nhiên vô cớ mang tiền đút lót. Họ chỉ cần phải làm điều đó khi bị ép buộc, hoặc là cần thiết để họ có thể tiếp tục kinh doanh. Cho nên, tôi nghĩ việc Ngân hàng Thế giới xử lý như vậy cũng là một lời cảnh tỉnh và tôi hy vọng sẽ giúp cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam.”
Tiến sĩ Nguyễn Huy Vũ khẳng định rằng sự ngày càng chuyên nghiệp của giới doanh nhân cùng với các hoạt động đấu thầu ngày càng lành mạnh hơn của chính quyền trong nước do bị tác động từ xã hội và các tiêu chuẩn của các tổ chức quốc tế sẽ khiến cho đất nước có được nhiều những công trình chất lượng hơn, vừa giúp tiết kiệm ngân sách, phát triển và làm đẹp quốc gia, lại giúp xây dựng một lực lượng doanh nhân chuyên nghiệp với tầm vóc ngày càng bắt kịp với thế giới.
Đài RFA đã liên lạc với Ngân hàng Thế giới qua email để hỏi thêm thông tin về những yêu cầu hay quy định của định chế tài chính này sẽ được điều chỉnh khắt khe hơn hay không đối với các dự án tiếp theo tại Việt Nam. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chưa nhận được hồi đáp nào từ World Bank.

2056 - Những “thiên tài” AQ




Phần 1

Từ mục tiêu “cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại” đến cái đích “thu nhập cao” và “hùng cường”

Tại hội nghị “Hà Nội 2020 – Hợp tác đầu tư và phát triển” sáng ngày 27 tháng Sáu, 2020, ông Thủ Tướng Phúc với gương mặt hân hoan của chú Tễu, trao giấy chứng nhận đầu tư cho 229 dự án với tổng mức đầu tư 405 ngàn tỷ đồng, cùng một câu phán tràn trề hy vọng “2 lỗ, 1 cua” như sau: “Nếu như rơi rớt, chỉ còn 60% của số dự án này đi vào sản xuất kinh doanh thì đã thành công trong bối cảnh thế giới hiện nay.”