Thứ Hai, 4 tháng 5, 2020

1118 - Biển Đông và cách nó biến thành lãnh thổ của Trung Quốc “theo lịch sử” vào năm 1975 (Phần 1)

Lời giới thiệu
Như đã giới thiệu trên tài khoản Facebook của tôi cách đây 10 ngày, hôm nay tôi đăng một bài khảo cứu rất đặc sắc của GS. Johannes L. Kurz (Đại học Brunei Darussalam, Brunei).
Đây là bản tham luận do Johannes L. Kurz trình bày tại Hội thảo “Reframing the South China Sea” (Tái cấu trúc Biển Đông), do Viện Châu Á học thuộc Đại học Brunei Darussalam tổ chức (11 – 13/11/2013). Sau đó, tác giả đã cập nhật, bổ sung thông tin, để in vào cuốn sách “China and the World – The World and China” (Trung Quốc và thế giới – Thế giới và Trung Quốc). [Volume 3. Transcultural Perspectives on Modern China. Edited by Barbara Mittler and Natascha Gentz – 2019].
Trong tham luận này, Johannes L. Kurz đã bóc trần tất cả những thủ đoạn mà các học giả người Hoa, bao gồm cả người Hoa ở Đài Loan, ở Hong Kong và ở Trung Quốc đại lục, đã sử dụng các thư tịch cổ Trung Hoa một cách phi lý, lươn lẹo, xảo trá, bất chấp tính khách quan của sử liệu, bỏ qua các thao tác khoa học trong nghiên cứu lịch sử, để giải thích sử liệu theo hướng biến tất cả những thực thể địa lý ở Biển Đông và vùng biển này thành lãnh thổ của Trung Quốc, mặc dù cho đến giữa thế kỷ XX, Trung Quốc vẫn còn mơ hồ về kiến thức, vị trí địa lý, tên gọi các thực thể địa lý ở Biển Đông và vùng biển này.
Bài viết gốc của Johannes L. Kurz viết bằng tiếng Anh, có chua chữ Hán và phiên âm pinjin; dịch giả Phan Văn Song đã chuyển ngữ theo đúng định dạng của bài gốc, nhưng chuyển các phiên âm pinjin sang âm Hán – Việt, và có bổ sung 5 chú thích (bản gốc có 100 chú thích).
Khi nhận bản dịch của dịch giả Phan Văn Song, tôi nhận thấy cách trình bày như bản gốc thì hơi khó đọc đối với độc giả người Việt, vì thế tôi xin phép dịch giả chỉnh sửa format, loại bỏ phần phiên âm pinjin, chuyển các trích dẫn gốc bằng chữ Hán xuống chú thích và hiệu đính bản dịch ở một số nơi, đồng thời bổ sung thêm một số chú thích của tôi (thành 180 chú thích) để độc giả dễ hiểu hơn.
Bài này vừa được in trên tạp chí PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI ĐÀ NẴNG (số 124, tháng 4/2020).
Trân trọng giới thiệu cùng quý vị.
***
BIỂN ĐÔNG VÀ CÁCH NÓ BIẾN THÀNH LÃNH THỔ CỦA TRUNG QUỐC “THEO LỊCH SỬ” VÀO NĂM 1975 – Phần 1
Tác giả: JOHANNES L. KURZ (Brunei)
Dịch sang tiếng Việt: PHAN VĂN SONG (Úc)
Hiệu đính, biên tập: TRẦN ĐỨC ANH SƠN (Đà Nẵng, Việt Nam)

Một trong những bài viết sớm nhất trình bày “bằng chứng lịch sử” cho hiểu biết và hành động lâu đời của Trung Quốc về các nhóm đảo ở biển Đông đã xuất hiện trên tờ Nhân dân nhật báo (人民日报) vào ngày 25.11.1975 có tựa đề là “Các đảo ở Nam Hải1 từ xưa là lãnh thổ của chúng ta”.2
Việc Nhân dân Nhật báo đăng bài báo này phản ánh lập trường chính thức của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) và khuyến khích nỗ lực của học giả Trung Quốc trong việc chứng minh tính xác thực của các yêu sách lịch sử ở biển Đông. Bài báo này có ảnh hưởng sâu sắc đến các diễn đạt chính trị và học thuật trong tương lai trong việc tom góp các đảo ở biển Đông vào lãnh thổ Trung Quốc. Để cho thấy bài viết của “Shi Dizu” (史棣祖: Sử lệ tổ) thiết lập “thẩm quyền lịch sử” đối với các đảo ở biển Đông như thế nào3, tôi sẽ xem xét kỹ lưỡng một số nguồn của nó một cách chi tiết dưới đây. Điều này đặc biệt thích hợp vào thời điểm Hoa Kỳ đang thực thi quyền tự do đi lại (FONOP) ở biển Đông ở mức độ thường xuyên4 và khi một lượng lớn giao thương toàn cầu đi qua khu vực này.5 Thêm vào đó, cộng đồng quốc tế đã bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc ở biển Đông. Cuối cùng là Tòa Trọng tài Thường trực (Permanent Court of Arbitration – PCA) tại The Hague (Hà Lan) vào tháng 7.2016 đã ra phán quyết rằng Trung Quốc không có “quyền lịch sử” ở biển Đông như tuyên bố của Trung Quốc năm 2009 qua việc nộp một công hàm có bản đồ “đường 9 đoạn” (九段线: cửu đoạn tuyến).6 Việc xem xét lại quá trình này bắt đầu vào năm 2015, khởi đầu bằng vụ Philippines kiện Trung Quốc vào năm 2013. Phán quyết này ngay lập tức đã bị Trung Quốc bác bỏ qua việc một lần nữa nói rằng lịch sử vẫn là một luận cứ hậu thuẫn quyền sở hữu của Trung Quốc đối với biển Đông.7
1. MỞ ĐẦU
Vào tháng 1.1974, Quân giải phóng Trung Quốc đã giành quyền kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là 西沙群岛: Tây Sa quần đảo) với việc đánh bại lực lượng Nam Việt Nam đóng tại đó.8 Sau đó, từ tháng 3 đến tháng 4.1974, Bảo tàng tỉnh Quảng Đông9 và Cục Văn hóa Khu hành chính Hải Nam10 đã cử một nhóm nhà nghiên cứu đến khảo sát lãnh thổ mới chiếm được. Khi tìm thấy một số đồ vật như tiền đồng và gốm sứ Trung Quốc họ bèn kết luận rằng “quần đảo Tây Sa từ xưa đã là lãnh thổ thiêng liêng của Trung Quốc”.11 Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu chợt bắt gặp một tài liệu thủy lộ bạ (水路簿: sổ đi biển) thuộc sở hữu của ngư dân Su Deliu (苏德柳: Tô Đức Liễu) ở Đàm Môn (潭门) phía đông đảo Hải Nam12 có ghi chép các tuyến đường đi thuyền đến các đảo và có nói đến các đảo và bãi cạn theo tiếng địa phương Đàm Môn.13 Thú vị là kết quả của cuộc điều tra này được ba bài báo ở Hong Kong- chứ không phải ở Trung Quốc – dõi theo, đều bênh vực cùng một điểm, đó là các tuyên bố lịch sử của Trung Quốc trong khu vực, dựa trên cơ sở các tài liệu lịch sử.14 Hai bài trong số này xuất hiện trên Minh báo nguyệt san (明報月刊) cùng số. Bài đầu của Deng Siyu (邓嗣禹: Đặng Tự Vũ), có tựa là “Vấn đề chủ quyền ở các đảo và rạn đá ở biển Nam Trung Hoa”15 và mạnh mẽ đề xuất rằng tất cả các nhóm đảo trong biển Đông là lãnh thổ của Trung Quốc.16 Deng Siyu sử dụng một số ít sách vở và bản đồ trước thế kỷ XIX để củng cố luận điểm của mình trong khi bài báo thứ hai do Ye Hanming (葉漢明: Diệp Hán Minh) và Wu Ruiqing (吳瑞卿: Ngô Thụy Khanh) viết thì đầy đủ hơn và sử dụng các sách vở Trung Quốc từ thế kỷ I trở đi.17 Ngoài số lượng tài liệu tham khảo tăng lên rất nhiều, bài viết của Ye và Wo cũng có cả bản đồ. Tác giả của bài viết thứ ba – trong Thất thập niên đại (七十年代) – là Qi Xin (齊辛: Tề Tân), lại tập trung vào lịch sử thế kỷ XIX và XX và lý do vì sao Tây Sa quần đảo là lãnh thổ Trung Quốc trong một thời gian dài. Giống như Deng Siyu, Qi Xin không cung cấp nhiều sách vở xưa hơn của Trung Quốc, nhưng bàn luận về các chính sách hiện đại.18 Hai bài báo trên Minh báo nhằm chứng minh các nhà nước phong kiến và hiện đại Trung Quốc tiếp nối nhau đã kiểm soát các đảo ở biển Đông như thế nào và do đó đã biến chúng thành lãnh thổ Trung Quốc – “Nam hải chư đảo đích chủ quyền quy thuộc”.19 Nhiều khả năng việc Trung Quốc chiếm được quần đảo Hoàng Sa và đẩy lùi lực lượng Nam Việt Nam mới trước đó đã thúc đẩy các tác giả viết ra các bài báo này. Với khả năng quân sự của Trung Quốc vào thời điểm đó còn kém phát triển so với Hoa Kỳ, việc dùng lập luận lịch sử có lẽ là tuyến phòng thủ đầu tiên để chống lại việc can thiệp ủng hộ Nam Việt Nam có thể có của Hoa Kỳ.
2. TÌM RA BIỂN ĐÔNG TRONG SÁCH VỞ TIỀN HIỆN ĐẠI: “SHI DIZU” NĂM 1975
Trước khi bài báo của “Shi Dizu” xuất hiện trên Nhân dân nhật báo năm 1975, Shao Xunzheng (邵循正: Thiệu Tuần Chính, 1909 – 1972) đã viết trên Nhân dân nhật báo năm 1956 rằng một phần của biển Đông là lãnh thổ lịch sử của Trung Quốc.20 Shao Xunzheng là một nhà nghiên cứu tại Sở Nghiên cứu Lịch sử số 3 Viện Khoa học Trung Quốc.21 Ông giải thích rằng các thể địa lý trong đại dương ghi trong các nguồn tài liệu Trung Quốc tiền hiện đại là những quy chiếu trực tiếp đến các nhóm đảo ở biển Đông. Shao Xunzheng tập trung vào cụm từ Thất Châu dương (七洲洋: biển bảy đảo) mà theo ông là để chỉ “Tây Sa quần đảo” (quần đảo Hoàng Sa), và ông đã truy cụm từ này qua một số sách vở. Trong số sách vở trước thế kỷ XX mà ông khảo sát là truyện “Sử Bật” (史弼) trong Nguyên sử (元史); Đảo di chí lược (島夷志略), Tinh tra thắng lãm (星槎胜览), Vũ bị chí (备志), Hải ngữ (海语), Hải quốc văn kiến lục (海国闻见录); Hải lục (海录).22 Từ đó, ông đã thiết lập một kiến thức liên tục về “Tây Sa quần đảo” từ năm 1292 đến cuối thời Thanh, và tiếp đó, thời hiện đại.
Gần 20 năm sau đó, bài viết của “Shi Dizu” cung cấp nhiều bằng chứng “lịch sử” về biển Đông cho chính phủ Trung Quốc trong việc bác bỏ phản đối của Nam Việt Nam đối với sự hiện diện của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa. Kể từ khi quần đảo Hoàng Sa vào năm 1975 hiển nhiên là lãnh thổ của Trung Quốc qua việc chiếm đóng của quân đội họ, bài viết mới này đã vươn xa hơn về mặt lãnh thổ, cũng như về các nguồn sách vở được sử dụng. Bằng việc sử dụng các sách vở lịch sử, “Shi Dizu” lập luận rằng “Trung Quốc có chủ quyền không tranh cãi được đối với các đảo này”.23 Theo nghĩa đó, “Shi Dizu”, thẳng thắn hơn nhiều so với các tác giả của các bài báo được xuất bản trước đây ở Hong Kong, và có thể là như vậy, vì việc Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa đã và sẽ không bị thách thức về mặt quân sự.24 Việc nhấn mạnh lịch sử như là một lập luận hậu thuẫn cho các quyền của Trung Quốc ở biển Đông chắc chắn là nhằm vào các quốc gia Đông Nam Á tiếp giáp với biển Đông. Các quốc gia này không có ghi chép lịch sử nào để đưa ra và do đó không thể thách thức Trung Quốc được. Ngoài ra, các quy định liên quan đến các đại dương, như Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS, 1982) vào thời điểm đó vẫn chưa được hình thành.
“Shi Dizu” là một bút danh được các thành viên của Tổ Địa lý Lịch sử thuộc Sở Địa lý Viện Khoa học Trung Quốc25 sử dụng, hoặc “shidizu” (史地组: sử địa tổ), nhóm cùng viết bài báo xuất hiện lần đầu tiên trên Quang minh nhật báo (光明日报) vào ngày 24.11.1975 và được đăng lại vào ngày hôm sau trên Nhân dân nhật báo.26 Nhiều sách vở mà “Shi Dizu” đào bới đã được Ye và Wu tham khảo trước đó.
Sau đó, “Shi Dizu” đã sử dụng một mảng lớn sách vở cho phép họ mở rộng các hiểu biết cho là của Trung Quốc về biển Đông và các đảo của nước này trong hơn một ngàn năm. Họ đã thiết lập một kho tài liệu tham khảo mà các tác giả sau này ở Trung Quốc thường xuyên đọc đi đọc lại.27
Thay vì chỉ đưa ra bằng chứng từ sách vở, “Shi Dizu” đã phân loại sách vở thành loại cung cấp bằng chứng về việc đặt tên trước nhất cho các đảo, loại về sự khai thác và canh tác thực tế, và loại về việc cai quản trong lịch sử qua các triều đại tiếp nối của Trung Quốc. Điều này trở thành khuôn khổ chung cho tất cả các nỗ lực nghiên cứu lớn cũng như các tuyên bố chính thức của các cơ quan chính phủ cho đến gần đây.
Sách vở đôi khi chỉ được nêu tên, nhưng nói chung, “Shi Dizu” không chỉ ra đích xác vị trí của các đoạn trích. Tôi đã xác định các đoạn trích nguyên gốc đến mức có thể được, và dịch ra [tiếng Anh]. Các từ ngữ trung tâm đóng vai trò quan trọng trong lập luận về biển Đông là: trướng hải (涨海: biển trướng / dâng lên), thạch đường (石塘: kè / bờ / bãi đá), vạn lý thạch đường (万里石塘: bờ đá mười ngàn lý), vạn lý thạch đường dư (万里石塘屿: đảo / bờ đá mười ngàn lý), trường sa (长沙: bãi cát dài), vạn lý trường sa (万里长沙: bãi cát mười ngàn lý), Thất Châu dương (七洲洋 / 七州洋: biển bảy đảo), Cửu Nhũ Loa châu (九乳螺洲: đảo Cửu Nhũ Loa)28 và nhiều từ khác. Vì các tên gọi bằng tiếng Trung nên các địa điểm này mặc nhiên là lãnh thổ của Trung Quốc theo nguyên tắc “Ai đặt tên, người ấy là chủ”. Các nguồn được “Shi Dizu” tham khảo, bao gồm các ghi chép chính thức và không chính thức của các triều đại, ghi chép về các chuyến đi, địa chí, sổ tay đi biển, và bản đồ, còn đối với cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX là báo chí và hướng dẫn đi biển của Anh.
3. CÁC NGUỒN SỬ LIỆU TRUNG QUỐC
Sau đây tôi sẽ bàn về các nguồn Trung Quốc tiền hiện đại cho đến đầu thế kỷ XIX mà “Shi Dizu” có chỉ đến. “Shi Dizu” giới thiệu các nguồn theo hai tiêu đề chính, thứ nhất là “Phát hiện địa lý với một lịch sử lâu dài”29, và thứ hai là “Khai phá cần mẫn liên tục không gián đoạn”.30 Tiếp theo đó là phần có tiêu đề “Việc cai quản của các chính phủ các triều đại đối với các đảo ở biển Đông”31 trong đó có nêu thêm nhiều tài liệu lịch sử. Bài báo kết thúc với phần có tiêu đề “Lãnh thổ thiêng liêng là không thể xâm phạm”32 trong đó tập trung chủ yếu vào các yêu sách của Trung Quốc đối với biển Đông trong thế kỷ XX. Tài liệu bao gồm chủ yếu là các bài báo trên tạp chí và các bản đồ thuộc phần cuối của thế kỷ XIX và những thập niên đầu của thế kỷ XX được bàn trong phần thứ hai và phần thứ tư đã được Bill Hayton phân tích đầy đủ và tôi muốn giới thiệu cho người đọc về công trình rất chi tiết của ông về chủ đề này.33 Trong phần sau tôi sẽ trình bày các nguồn lịch sử khi chúng xuất hiện dưới tiêu đề thứ nhất, thứ hai và thứ ba.
3.1. Phát hiện địa lý với một lịch sử lâu dài
Loạt bằng chứng dạng văn bản dưới tiêu đề thứ nhất bắt đầu với Hậu Hán thư (后汉书) của Xie Cheng (谢承: Tạ Thừa, thế kỷ III), vốn chỉ còn các mảnh rời. “Shi Dizu” dẫn một mục trong những bản được lưu giữ trong cuốn bách khoa toàn thư Thái Bình ngự lãm (太平御览)34 thời đầu nhà Tống: “Trần Mậu35 từ Nhữ Nam đã từng là một biệt giá ở Giao Chỉ [một chức quan] tương ứng với chức quan và ông ta chưa từng đi qua biển trướng. Khi thứ sử Chu Xưởng xuống thuyền ra biển, một cơn gió nổi lên đe dọa làm lật thuyền, Mậu rút kiếm ra mắng thủy thần và gió lập tức dịu xuống”.36
Làm cách nào mà đoạn văn này kể lại việc cai quản biển Đông, như “Shi Dizu” khẳng định vẫn còn là một câu đố. Nó mô tả một chuyến đi biển trắc trở, nhưng không làm nên bằng chứng thuyết phục cho việc tuần hành (巡行) trên biển.37 Thay vào đó, tên một chức quan, cụ thể là chức quan thứ sử hành bộ (刺史行部) đã biến thành một khẳng định hành bộ trướng hải (行部涨海: đi tuần biển trướng) qua việc diễn giải lại tuần hành như một động từ thay cho vai trò ban đầu của nó như là một phần của tên chức vụ.
Các tác giả sau này như Nan Mingzi (南溟子: Nam Minh Tử)38 đã chọn một mảnh trong Hậu Hán thư lưu trong bách khoa toàn thư nhà Đường Sơ học ký (初学记)39: “Các cống vật từ bảy quận của Giao Chỉ đều được gửi tới qua trướng hải”.40
Phần trích ở đây có lưu ý miền bắc Việt Nam (Giao Chỉ) là lãnh thổ dưới quyền của Trung Quốc, và ngụ ý là vùng biển giữa miền bắc Việt Nam và Trung Quốc cũng phải thuộc Trung Quốc.
Cuốn sách tiếp theo, Nam châu dị vật chí (南州异物志)41 do Wan Zhen (万振: Vạn Chấn) thời Tam Quốc (thế kỷ III) biên soạn, được trích trong Thái Bình ngự lãm như sau: “Đi thuyền từ phía tây nam đến phía đông bắc [ta gặp] những tảng đá khổng lồ nổi lên trong biển trướng. Quanh đó nước cạn và có nhiều đá nam châm”.42
Lời giải thích được đưa ra ở đây là đoạn văn này mô tả các bãi cát và rạn san hô ngầm mà tàu thuyền có thể gặp trong các chuyến đi từ Đông Nam Á đến Nam Trung Quốc. Đối với “Shi Dizu”, điều này liên quan đến “việc phát hiện và mô tả sớm về các đảo ở biển Đông”. Tuy nhiên, thông tin quá mơ hồ, đoạn trích từ Nam châu dị vật chí này đã được bổ sung – nếu không phải bỏ hoàn toàn – trong các công bố sau này viết theo Dị vật chí (异物志)43 của Yang Fu (杨孚: Dương Phu) thời nhà Hậu Hán (25 – 220).44 Lý do có khả năng nhất cho sự thay đổi này là vì Dị vật chí có trước Nam châu dị vật chí vài thập kỷ.45 Dị vật chí viết: “Có nhiều đá mấp mô trong biển trướng, và ở đó nước cạn và có rất nhiều đá nam châm. Người nước ngoài gia cố thuyền lớn của họ bằng các tấm kim loại. Khi họ đến vùng biển này thì không thể vượt qua được vì bị đá nam châm hút”.46
Đoạn này nhấn mạnh đến việc đâm vào các bãi cát và đá là không thể tránh khỏi khi đi thuyền trong khu vực chưa có hải đồ. Nó hàm ý rằng giao thông đường biển từ tây nam đến đông bắc không phải do người Trung Quốc đảm nhận, mà do “người nước ngoài”, rất có khả năng là người Đông Nam Á. Những người này có thể đã báo cho người Trung Quốc về những nguy hiểm của việc vượt đại dương khi họ cho tàu thuyền thực hiện những chuyến đi như vậy. Dù sao đi nữa, việc đề cập đến các chướng ngại vật trong một khu vực biển không xác định khó có thể chấp nhận như là kiến thức ban đầu của Trung Quốc về các đảo biển Đông. Bộ Ngoại giao Trung Quốc trong tuyên bố bằng tiếng Anh về biển Đông vào ngày 17.11.2000, đã dịch trướng hải khi đầu (涨海崎头: những mỏm đá lớn trên biển trướng) thành “những hòn đảo, rạn san hô, bờ cát và bãi biển của Tây Sa quần đảo và Nam Sa quần đảo, các đảo ở biển Đông”.47 Tuyên bố tiếp tục với việc vẫn cho rằng khi đầu (崎头 ) là một từ tổng quát được người Trung Quốc sử dụng để chỉ “tất cả các đảo, rạn san hô, bãi cạn và đảo ở biển Đông, bao gồm cả Nam Sa và Tây Sa quần đảo”. Cách giải thích này cũng được đưa vào phiên bản tiếng Trung của tuyên bố ngày 22.11.2000.48 Cách dịch tiếng Anh hơi sai lệch này phục vụ cho việc thuyết phục các đối tượng người nước ngoài đọc tiếng Anh về các yêu sách chính đáng của Trung Quốc. Ngoài ra, nó còn tăng thêm nghĩa của “những mỏm đá lớn” trong lời văn gốc với việc gộp hết mọi loại thể địa lý triều thấp và triều cao ở biển Đông vào. Theo đó, chỉ một từ gốc duy nhất bao gồm hết tất cả các đảo và các rạn san hô ngầm có thể có mà Trung Quốc thèm muốn. Nếu không có năng lực ngôn ngữ cần thiết thì ai có thể tranh luận hoặc sẽ tranh luận với “bằng chứng lịch sử” đó?49
Shen Jianming (申建明: Thân Kiến Minh) đã đưa ra một bản dịch thậm chí táo tợn hơn đoạn văn trong phiên bản Nam châu dị vật chí lưu trong Thái Bình ngự lãm50 “Có nhiều đảo nhỏ, cồn cát, rạn đá và bãi cát ở biển Đông, ở đó nước cạn và chứa đầy đá nam châm. Các quan đi tuần biển dùng thuyền lớn có bọc sắt; khi đến khu vực này, họ không thể tiến xa hơn vì đá nam châm”.51
Shen Jianming đã biến khi đầu (崎头: đá) thành “đảo nhỏ, cồn cát, rạn đá và bãi cát”52; trướng hải (涨海: biển trướng) thành “biển Đông”; và kiếu ngoại nhân (徼外人: người nước ngoài) thành “các quan đi tuần biển”.53 Bằng cách thay đổi thứ tự các chữ trong kiếu ngoại nhân (徼外人) thành ngoại kiếu nhân (外徼人), ông đã biến người nước ngoài ở “bên ngoài biên giới” (徼外) thành quan “tuần tra biên giới” (外徼). Ông cũng đã thay đổi bạc (舶) vốn cho thấy nguồn gốc của tàu thuyền có thể là từ Đông Nam Á54 thành thuyền (船). Do đó, ông đã biến một tàu có thể là của nước ngoài thành tàu của Trung Quốc, biến một quan sát do các thủy thủ nước ngoài thực hiện thành một quan sát của thủy thủ Trung Quốc. Như vậy, Shen Jianming đã sửa đổi lời văn để mô tả thành bối cảnh của Trung Quốc, trong đó các quan Trung Quốc đi tuần tra một khu vực biển do Trung Quốc kiểm soát, và đã loại bỏ đi ý nghĩa ban đầu theo đó có thể là người đi biển Đông Nam Á đi thuyền trên một đại dương mở. Các tàu được bảo vệ bằng các tấm sắt nếu chúng đâm vào đá. Từ tính của các tảng đá là hình ảnh cho việc va vào đá không thể tránh khỏi, và những con tàu được gia cố bằng các tấm kim loại không phải bị dừng lại vì từ tính mà vì không có cách nào vượt qua chướng ngại vật.55, 56
Phù Nam truyện (扶南传) là một tường thuật của Kang Tai (康泰: Khang Thái) và Zhu Ying (朱应: Chu Ứng) về chuyến đi Phù Nam (ở miền Nam Việt Nam hiện nay), xem thêm Ngô thời ngoại quốc truyện (吴时外国传) vào thế kỷ III. Chỉ còn những mảnh rời rạc dưới dạng các đoạn trích trong bách khoa toàn thư thời Đường và Tống. Những mảnh rời này đã được Chen Jiarong (陈佳荣: Trần Giai Vinh) tìm cách ghép lại và xuất bản.57 Đoạn văn ngắn có liên quan từ bản gốc được trích dẫn trong Thái Bình ngự lãm như sau: “Ở biển trướng, có thể gặp các đảo san hô58 mà ở dưới chân của các đảo này san hô mọc lên trên đá”.59
Đối với “Shi Dizu”, câu này cho thấy các thủy thủ xưa của Trung Quốc đã có một “hiểu biết khá chính xác”60 về hình dạng và cấu trúc của các đảo biển Đông. Vị trí của các đảo san hô này chỉ là thứ yếu, vì trướng hải (涨海) theo cách hiểu của “Shi Dizu” là biển Đông. Với vai trò là một trong những từ trung tâm trong lập luận của Trung Quốc, các học giả Trung Quốc đã lặp đi lặp lại lập luận cho trướng hải là biển Đông.
Trước đây ít lâu Roderich Ptak đã chỉ ra rằng kết luận cuối cùng về cách giải thích từ này vẫn chưa được nói ra và việc thảo luận về nó vẫn đang tiếp diễn.61 Trong nghiên cứu chi tiết trước đó về từ này, Ptak giải thích rằng trướng hải – một từ ông không dịch khác hơn là “biển zhang” (“Zhang Meer”) – là một từ mô tả vùng biển ngoài khơi Quảng Đông, xung quanh đảo Hải Nam, và vịnh Bắc Bộ.62 Cuối cùng, từ này bao gồm hầu hết các khu vực biển từ Quảng Đông đến Ấn Độ Dương. Theo đó, trướng hải không nhất thiết chỉ một khu vực biển cụ thể, mà là một tên gọi mơ hồ cho một khu vực biển không xác định.
“Shi Dizu” không cung cấp dù chỉ một nguồn nào để nêu thêm bằng chứng cho các tên gọi của Trung Quốc cho biển Đông hoặc bất kỳ thể địa lý nào nằm trong đó thuộc giai đoạn từ thời Tam Quốc tới triều đại nhà Đường (thế kỷ III đến đầu thế kỷ X); không có tư liệu cho giai đoạn này, “Shi Dizu” nhảy sang triều Tống.63 Lý do chính để đề cập đến Bình châu khả đàm (萍洲可談)64 của Zhu Yu (朱彧: Chu Úc) là vì đó là một trong những sách vở đầu tiên mô tả việc đi thuyền với la bàn. Mặc dù la bàn tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại trên biển, nhưng “Shi Dizu” giải thích rằng các địa điểm đó không thể do những người đi biển xác định. Vì trong Bình châu khả đàm không đề cập đến đảo, đảo san hô cũng như rạn đá nào, nên “Shi Dizu” đã tham khảo Lĩnh ngoại đại đáp (岭外代答)65 của Zhou Qufei (周去非: Chu Khứ Phi).
“Shi Dizu” khẳng định sách sử thời nhà Tống cho thấy “hiểu biết địa lý”66, “địa hình của đáy biển”67 và “đưa ra tên chính thức cho các đảo ở Nam hải”.68 Câu trong Lĩnh ngoại đại đáp mà “Shi Dizu” rút ra – ở dạng cắt xén – như sau: “Trong đại dương lớn phía đông có một bãi cát dài và một bờ đá kéo dài hàng mười nghìn lý”.69
Bãi cát và bờ đá trong câu này là những mô tả về các đảo biển Đông. Đoạn trích ở dạng đầy đủ là: “Nghe nói rằng ở đại dương phía đông, nhiều bãi cát và bờ đá kéo dài hàng chục ngàn lý mà ở đó nước thoát đi tại rốn biển (vĩ lư) và đổ xuống chín vực thẳm (âm phủ)”.70, 71
Câu trích bị cắt ngắn giấu đi sự mơ hồ (truyện văn: nghe nói)72 của bản gốc. Thay vì mô tả các đảo ở biển Đông và đề cập đến chúng bằng tên chính thức được cho là của chúng một cách chắc chắn, Lĩnh ngoại đại đáp lặp lại lời đồn về những trở ngại đối với việc đi lại trên biển. Sau khi “Shi Dizu” thiết lập những trở ngại vô danh này (trường sa, vạn lý thạch đường…) thành tên gọi cho các đảo ở biển Đông, việc kết hợp các hồ sơ lịch sử để hậu thuẫn cho điều giả định này là đơn giản. Điều giả định này còn chừa chỗ để thực hiện thêm các xác định khác, chẳng hạn như trong trường hợp bãi cát dài.73
Đối với “Shi Dizu” lời văn trên rõ ràng là nói tới các đảo trên biển Đông với các tên gọi “bãi cát ngàn lý, bờ đá mười ngàn lý”.74 Hơn nữa, “Shi Dizu” còn xem lời văn đó cung cấp “một mô tả về các thể địa lý và tình hình hàng hải biển Đông”.75 Quỳnh quản chí (琼管志)76, nhiều khả năng biên soạn vào đầu thời Nam Tống, không còn tồn tại mà chỉ còn sót lại một vài mảnh rời. Dư địa ký thắng (舆地纪胜)77, sách địa lý do Wang Xiangzhi (王象之: Vương Tượng Chi) biên soạn (khoảng 1196 – 1221) thời Nam Tống, trích dẫn Quỳnh quản chí trong mục về trại Cát Dương (吉阳军) trên đảo Hải Nam như sau: “Ngoài biên giới của nơi này [Cát Dương] có các hòn đảo có tên là Ô Lý, Tô Mật, và Cát Lãng nằm đối diện với Chiêm Thành. Phía tây [của Cát Dương] là Chân Lạp và Giao Chỉ, và phía đông là các bãi cát ngàn lý (thiên lý trường sa) và các bờ đá mười ngàn lý (vạn lý thạch đường). Rộng lớn và vô tận từ trên xuống dưới, kéo dài hàng ngàn lý một màu […]”.78
Theo cách hiểu của “Shi Dizu”, hai cụm từ này (thiên lý trường sa, vạn lý thạch đường) trong Quỳnh quản chí thực tế là tên gọi của tất cả các đảo trong biển Đông thay vì là những mô tả mơ hồ về các mối nguy hàng hải. “Shi Dizu” cho rằng các bản đồ hàng hải được vẽ ra vào cuối thế kỷ XIII đã phản ánh kiến thức này.79 “Shi Dizu” đặc biệt chú trọng vào một bản đồ hay các bản đồ mà Zhao Rushi (赵汝适: Triệu Nhữ Quát) có nhắc tới mà ông đã xem được.
Zhao Rushi, tác giả của Chư phiên chí (诸蕃志)80, từng trông coi ti thị bạc (hải quan)81 ở Tuyền Châu, Phúc Kiến. Chư phiên chí, dựa trên thông tin do các người đi biển cung cấp, là một trong những sách vở đầu tiên có nêu tên gọi “mới” thiên lý trường sa (bãi cát ngàn lý) và vạn lý thạch đường (bờ đá mười ngàn lý).82 Ptak đề xuất rằng cả hai cụm từ này có thể là tên gọi chung cho các bãi và bãi cát, và không chỉ đảo hoặc nhóm đảo cụ thể nào. Đối với ông, cho dù trường sa và thạch đường chỉ cái gì, chắc chắn chúng không phải dưới quyền cai quản của các triều đại Tống, Nguyên, Minh. Tương tự, ông khẳng định rằng không có bằng chứng nào cho bất kỳ sự định cư nào của người Trung Quốc được tìm thấy trong các nguồn có liên quan.83
Trong lời nói đầu cuốn Chư phiên chí, Zhao Rushi có nói đến thạch sàng (sàn/giường đá)84 và trường sa (bãi cát dài)85 đã được ghi trên bản đồ hoặc các bản đồ Chư phiên đồ (诸蕃图).86 Những bản đồ cụ thể này là bản đồ nào thì không rõ. “Shi Dizu” coi Chư phiên đồ như là một “hải đồ lâu đời nhất”87 có đánh dấu “những nguy hiểm của các sàn đá và bãi cát dài”. Đoạn đầy đủ trong lời nói đầu như sau: “Sau khi Nhữ Quát được lệnh ở đây, ông đã xem qua các bản đồ của tất cả [nước] phiên trong thời gian rảnh rỗi. Ông đã kiểm tra các ghi chép khác về sự nguy hiểm của sàn đá và bãi cát dài, cùng ranh giới của biển Giao (Giao dương) và đảo Trúc (Trúc dư) [mà các bản đồ đề cập], nhưng không có gì trên đó”.88, 89
Trong khi không thể xác định được gốc tích của “sàn đá” và “bãi cát dài”, thì biển Giao và đảo Trúc lại có thể là chỉ dẫn trực tiếp đến một mục trong Lĩnh ngoại đại đáp.90 Mục này mô tả chuyến đi từ Srivijaya trên Sumatra đến miền nam Trung Quốc qua biển Giao và đảo Trúc.91 Các ghi chép mà Zhao Rushi đọc qua để tìm kiếm vị trí của sàn đá và bãi cát dài không cung cấp chi tiết nào thích hợp.
Cẩm nang quân sự Vũ kinh tổng yếu (武经总要)92 của Zeng Gongliang (曾公亮: Tăng Công Lượng, 998 – 1078) có nói đến cụm từ Cửu Nhũ Loa thạch (九乳螺石) trong mô tả các đoạn đường biển xuất phát từ Quảng Châu thuộc Quảng Đông, có thể ngầm hiểu là đi về phía nam: “Từ núi Đồn Môn lợi dụng gió đông, có thể tới đá Cửu Nhũ Loa sau khi đi theo hướng tây nam trong bảy ngày. Sau ba ngày nữa sẽ đi đến đảo Chiêm Bất Lao [tại biên giới] của nước Hoàn Châu”.93, 94
Đối với “Shi Dizu”, nhiều rạn đá ngầm ở Tây Sa quần đảo (Hoàng Sa) là lý do để Vũ kinh tổng yếu gọi chúng bằng cái tên Cửu Nhũ Loa (九乳螺). “Shi Dizu” đã củng cố quan điểm của họ bằng một bản đồ trong Dương phòng tập yếu (洋防辑要)95 (xem Bản đồ 2) của Yan Ruyi (严如熠: Nghiêm Như Tập, 1759 – 1826).96 Quảng Đông dương đồ (广东洋图)97 – xuất bản sau Vũ kinh tổng yếu vài trăm năm – được cho là phản ánh kiến thức thời Tống vì nó đặt đảo Cửu Nhũ Loa98 “ở vị trí của Tây Sa quần đảo”.99 Bản đồ đó chắc chắn không được vẽ theo tỉ lệ và do đó không thể xác định chính xác vị trí của các rạn đá và bãi cát.100
Mộng lương lục (梦梁录)101 của Wu Zimu (吴自牧: Ngô Tự Mục, khoảng 1256 – sau 1334) theo “Shi Dizu” là nguồn lâu đời nhất cho cụm từ Thất Châu dương (七洲洋), giống như Cửu Nhũ Loa châu (九乳螺洲) cũng được cho là tên gọi của “Tây Sa quần đảo”.102 “Shi Dizu” kết luận rằng sách vở từ nhà Tống là bằng chứng cho thấy “… kiến thức của nhân dân lao động Trung Quốc về địa hình Nam hải trong thế kỷ XIII đã có bước tiến”.103, 104
“Shi Dizu” tin rằng truyện Sử Bật (Shibi) trong Nguyên sử (元史), một chỉ huy Mông Cổ trong đội quân đi tấn công Java không thành công vào năm 1292, là bằng chứng cho thấy hạm đội Trung Quốc “đã đi qua các đảo ở biển Đông”.105 “Shi Dizu” đưa ra đoạn văn106 sau: “Khởi hành từ Tuyền Châu […] họ đi ngang qua biển Thất Châu và bờ đá mười ngàn lý, và sau đó đến lãnh thổ của Giao Chỉ (miền Bắc Việt Nam) và Chiêm Thành (miền Trung Việt Nam)”.107
Đây không phải là bằng chứng cho thấy các tàu đó đi qua khu vực này; thay vào đó, đoạn văn nói rõ rằng một thủy thủ khôn ngoan sẽ tránh các đảo, bãi cát và đá không chỉ trong biển Thất Châu mà cụ thể là dãy đá chắn được cho là dài mười ngàn lý. Do đó bắt buộc phải tránh chướng ngại vật này thay vì đi thuyền xuyên qua nó.108

Sau khi vét hết kiến thức thời Nguyên được cho là về các đảo ở biển Đông, “Shi Dizu” săm soi tới Vũ bị chí (武备志)109 (xem Bản đồ 3), một tài liệu được Mao Yuanyi (茅元仪: Mao Nguyên Nghi, 1594 – 1640?) biên soạn sau chuyến đi của Zheng He (鄭和: Trịnh Hòa, 1371 – 1433) trong nửa đầu thế kỷ XV. Vũ bị chí có ghi dấu các vị trí như: thạch tinh thạch đường110 (bờ đá sao đá), thạch đường111 (bờ đá) và vạn sinh thạch đường dư112 (đảo bờ đá mười ngàn kiếp). Tài liệu tham khảo của “Shi Dizu” trong trường hợp này là các bản đồ chứa trong Trịnh Hòa hàng hải đồ (鄭和航海圖).113
Thạch tinh thạch đường được miêu tả thành vô số các dấu chấm có lẽ có nghĩa là các rạn san hô và bãi ngầm. Cách gọi tên này có lẽ biểu thị số lượng chướng ngại quá nhiều như sao trên trời. Hai thể địa lý khác được thể hiện là “núi” hoặc “đá”. Vạn sinh thạch đường dư rất có thể để chỉ tính chất nguy hiểm của nó, có thể phải trả giá nhiều mạng sống.114
Ngoài các công trình lịch sử, “Shi Dizu” cũng bàn luận về các tài liệu đi biển thực tế. Tất cả các tài liệu đó đều có đề cập dưới dạng này hay dạng khác các thể địa lý mà “Shi Dizu” đã khẳng định là tên gọi cho các đảo ở biển Đông. Sách đầu tiên trong số đó là Hải ngữ (海語), một tác phẩm do Hoàng Trung (黄衷: Huang Zhong) thời Minh biên soạn (1474 – 1553) có nói đến một “bờ đá mười ngàn lý”115 và “bãi cát mười ngàn lý”.116, 117
Đông tây dương khảo (東西洋考)118 của Zhang Xie (张燮: Trương Tiếp, 1574 – 1640) có ghi chép một số tuyến đường biển trên biển Đông. Mục từ trong Đông tây dương khảo mà “Shi Dizu” có rất nhiều khả năng quan tâm tới là mục sau:
“Thất Châu sơn, Thất Châu dương. Quỳnh Châu chí nói: Cách Văn Xương 100 lý về phía đông có một ngọn núi trong đại dương mà từ đó nhô lên bảy đỉnh. Trong đó có một suối nước trong uống được. Đây là nơi Lưu Thâm, lính nhà Nguyên, bắt được Du Đình Khuê, hầu cận [của hoàng đế] khi truy đuổi hoàng đế Đoan Tông (khoảng 1276 – 1278) nhà Tống.119 Truyền thuyết kể rằng Thất Châu xưa kia là một đại dương sâu thẳm. Đi thuyền qua nó, [thủy thủ] phải cúng cháo cho các loài ma quỷ của đại dương và cầu nguyện không ngừng. Khi tàu đã vượt qua khu vực nguy hiểm này, sau một thời gian ngắn nó sẽ đi đến một bờ đá kéo dài khoảng mười ngàn lý ở phía đông, và đó là nơi mà Quỳnh chí gọi là Thạch Đường hải (biển bờ đá) phía đông Vạn Châu. Khi tàu đâm vào bờ đá, người ta chỉ có thể hi vọng rằng nó sẽ tự thoát. Nước ở Thất Châu dương sâu 130 thác (sải) [khoảng 234 m]. Khi đi thuyền từ đó đến Đông Kinh ở Giao Chỉ (Bắc Bộ, miền Bắc Việt Nam) thì đi thẳng theo hướng Thân (240 độ), và sau năm canh giờ (khoảng 115 km), sẽ tới cho núi Lê Mẫu”.120, 121
“Shi Dizu” đã diễn giải các tài liệu sau đây theo cách tương tự, cụ thể như là bằng chứng cho hiểu biết lâu đời của Trung Quốc về biển Đông và các tên gọi được dùng để mô tả các nhóm đảo và rạn đá. Kể từ khi Thuận phong tương tống (顺风相送)122, một cuốn sổ tay của người đi biển (rutter)123, là cuốn xưa nhất thuộc nhóm tài liệu này, đáng để đi sâu vào chi tiết thực tế hơn. Lời văn cảnh báo về sự nguy hiểm mà “bờ đá mười ngàn lý” và “bãi cát ngàn lý” gây ra cho tàu thuyền. Lời văn đưa ra một khoảng cách bảy canh giờ (khoảng 160 km hoặc 16 đến 17 giờ) trên một lộ trình theo hướng đông từ Thất Châu dương đến “bờ đá mười ngàn lý”. Câu hỏi đặt ra là liệu “khoảng thời gian ngắn” này cho đoạn đường đi từ Thất Châu dương đến “bờ đá mười ngàn lý” có thể bằng với bảy canh giờ ghi trong Thuận phong tương tống hay không. Đi thuyền từ Đông Nam Á tới miền nam Trung Quốc với gió mùa tây nam trên một lộ trình theo hướng đông, lời văn cảnh báo về “bãi cát mười ngàn lý”.124 Các hướng dẫn đi thuyền xuất phát từ Giao Chỉ đặt “bãi đá mười ngàn lý” cách đó bảy canh giờ thẳng về phía đông.125 Do đó, bãi đá sẽ cách đều miền bắc Việt Nam và Thất Châu dương khiến cho cách xác định nó là quần đảo Hoàng Sa như “Shi Dizu” đưa ra, sẽ rất khó chấp nhận. Chỉ nam chính pháp (指南正法)126, một cẩm nang đi biển từ thời đầu Thanh, lặp lại thông tin từ Đông tây dương khảo cũng như từ Thuận phong tương tống.127 Sau đó, “Shi Dizu” đưa ra Đông dương Nam dương hải đạo đồ (东洋南洋海道图: Bản đồ các tuyến đường biển ở hai đại dương phía đông và phía nam, xem Bản đồ 5)128 như là bằng chứng bản đồ cho thấy người Trung Quốc thời nhà Thanh đã biết từng đảo ở biển Đông nằm ở đâu, trong khi Hải quốc văn kiến lục (海国闻見錄)129 và Doanh hoàn chí lược (瀛寰志略)130 cung cấp bằng chứng bằng lời về nó. Đông dương Nam dương hải đạo đồ (东洋南洋海道图)131 là công trình của Shi Shiqiao (施世骠: Thi Thế Phiếu), vốn là thủy sư đề đốc hải quân ở Phúc Kiến từ năm 1712 đến 1722. Bản đồ cho thấy một khu vực dày đặc với những chấm nhỏ ở vị trí gần trùng với quần đảo Hoàng Sa. Điểm thú vị của bản đồ là phân định các tuyến đường đi biển giữa Trung Quốc và các địa điểm ở Đông Nam Á.132
Các tài liệu khác mà “Shi Dizu”, đề cập sau đó đã không thêm thông tin mới nào cho cuộc thảo luận, nhưng chúng bổ sung cho mảng nguồn được cho là đã chứng minh quyền cai quản thiết lập lâu đời của Trung Quốc đối với các nhóm đảo ở biển Đông.
Tài liệu đầu tiên, Hải quốc văn kiến lục của Chen Lunjiong (陈伦炯: Trần Luân Quýnh ) (fl. 1730) có thông tin này: “Biển Thất Châu, ở phía đông nam Vạn Châu thuộc Quỳnh Đảo (Hải Nam), là một khu vực mà tất cả những người đi thuyền đến đại dương phía Nam (Đông Nam Á) phải đi qua”.132, 133
Tài liệu thứ hai, một mục trong Doanh hoàn chí lược, chỉ là một đoạn trích khác từ Hải quốc văn kiến lục và do đó không góp thêm kiến thức mới.134 “Shi Dizu” coi tài liệu thứ ba, Sứ tây kỷ trình (使西纪程)135 của Guo Songtao (郭嵩焘: Quách Tung Đảo, 1818 – 1891), là một nguồn hàng đầu về quần đảo Hoàng Sa vì Guo Songtao nêu chúng là “các đảo thuộc Trung Quốc”.136 Guo Songtao đã được những hành khách khác trên chiếc tàu đưa ông qua đại dương cho biết nó có tên là 齐纳细 (Qinaxi)137 mà ông ta hiểu có nghĩa là “biển Trung Quốc”.138 Phần có liên quan trong bản dịch của J. D. Frodsham ghi: “Cách cảng không xa139 [về phía bên trái] là quần đảo 拍拉苏 (P’ai-la-su)140 sản xuất sên biển và san hô, dù không có chất lượng tốt nhất. Các đảo này thuộc Trung Quốc, nhưng chúng khô cằn [là đảo hoang] và không có người ở”.141, 142
Một trong những lập luận của phía Trung Quốc về quyền sở hữu quần đảo Hoàng Sa là sự canh tác liên tục của họ.143 Khẳng định của Guo Songtao rằng các đảo không có người ở nói điều ngược lại. Tuy nhiên, việc nhật ký của Guo Songtao có đề cập đến các đảo vẫn được lấy làm bằng chứng, dù bấp bênh, rằng Trung Quốc kiểm soát chúng vào năm 1876.
_____
Nguồn: “The South China Sea and How It Turned into ‘Historically’ Chinese Territory in 1975”); Paper presented at workshop ‘Reframing the South China Sea’, Institute of Asian Studies, 11 – 13.11.2013, University Brunei Darussalam. In: China and the World – the World and China. Volume 3. Transcultural Perspectives on Modern China. Edited by Barbara Mittler and Natascha Gentz – 2019.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét