Thứ Tư, 19 tháng 5, 2021

6331 - So sánh chế độ tổng thống với chế độ đại nghị (tiếp theo)

Biên dịch: Vũ Thị Hương Giang

Nguồn: Joseph W. Robbins, “Presidentialism versus Parliamentalism”, in John T. Ishiyama and Marijke Breuning (eds), 21st Century Political Science: A Reference Handbook, (Thousand Oaks, CA: SAGE Publications, 2011), pp. 177- 185.

Lý thuyết: Xác định các thành tố chính của các chế độ đại nghị

Mặc dù các hệ thống tổng thống phổ biến ở bán cầu Tây nhưng đó không phải là lựa chọn duy nhất với các chính phủ. Trên thực tế, các hệ thống tổng thống lại thuộc phía thiểu số khi tính đến các loại chế độ có trên toàn thế giới. Các hệ thống đại nghị thật ra vượt xa số lượng các quốc gia theo chế độ tổng thống khi chúng ta nhìn lại cộng đồng toàn cầu. 

Với nhiều người nghiên cứu chính trị Hoa Kỳ, các hệ thống đại nghị vẫn là một khái niệm xa lạ, và những vận hành bên trong các chế độ này cũng không kém phần khó hiểu. Do vậy, cần phải thảo luận những đặc điểm mang tính đặc thù và vận hành của các chính phủ nghị viện trước khi trình bày những sức hút của chế độ đại nghị và thảo luận một loại hình chính phủ đang nổi lên, thường được gọi là các chế độ lai (hybrid regimes).

Thường được gọi tên là mô hình Westminter theo tên gọi chính phủ Anh quốc, các hệ thống nghị viện khác với các quốc gia theo chế độ tổng thống ở một vài khía cạnh. Một trong các đặc trưng của hệ thống nghị viện là sự trộn lẫn của các nhánh hành pháp và lập pháp. Khi trong chế độ tổng thống, nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ được gộp vào một người thì các chế độ đại nghị thường tách biệt hai vai trò này. Ngoài ra, các hệ thống tổng thống thường phân chia quyền lực giữa các nhánh của chính phủ, nhưng trong các chế độ nghị viện lại không thấy có sự phân bổ trách nhiệm rõ ràng như vậy. Thay vào đó, các chính phủ nghị viện thường kết hợp trách nhiệm của cả hai nhánh lập pháp và hành pháp.

Sau một lần bầu cử ban đầu – khi các cử tri quyết định có bao nhiêu ghế được phân bổ cho các đảng chính trị khác nhau, các đại diện được bầu trong hệ thống đại nghị sẽ được giao nhiệm vụ thiết lập hay hình thành chính phủ. Những cá nhân này không những phải tổ chức nhánh lập pháp mà còn chịu trách nhiệm cơ cấu nên nhánh hành pháp. Các quan chức lập pháp xác định ai sẽ là người đứng đầu chính phủ (hay ai sẽ là thủ tướng), chính trị gia nào sẽ giữ các vị trí nội các khác nhau, và ai sẽ đứng đầu các ủy ban lập pháp. Nếu có một người thắng cuộc rõ ràng trong các cuộc bầu cử ban đầu thì việc hình thành chính phủ khá đơn giản, và thông thường không phải thành lập liên minh. Nhưng trong các tình huống khác, khi mà không có đảng nào chiếm đa số thì đảng nào chiếm nhiều ghế nhất (thường được gọi là đảng thành lập, hay đảng nóng cốt – formateur party) sẽ chịu trách nhiệm xây dựng liên minh cầm quyền. Đảng này sẽ tìm một đối tác liên minh, hoặc đôi khi là vài đối tác khác nhau, và sau khi cùng nhau kiếm đủ sự ủng hộ để giúp liên minh giành đa số ghế, các đảng này sẽ cùng nhau xác định thủ tướng, các vị trí nội các và các chức vụ lãnh đạo khác. Mặc dù đây là cách thường làm nhưng cũng có những trường hợp không hình thành được một chính phủ liên minh, kể cả khi không có đảng chiến thắng đa số. Hiện nay, Canada đang có một chính phủ thiểu số do đảng Bảo thủ dẫn dắt. Trong trường hợp Canada, không có đảng đa số và những nỗ lực hình thành liên minh đã bị thất bại. Do đó, đảng Bảo thủ được mặc định là đảng cầm quyền trên thực tế cho dù nó không chiếm đa số ghế rõ rệt.

Việc thống trị nội các là một đặc điểm quan trọng khác của các nền dân chủ nghị viện (Lijphart, 1999). Khi hình thành liên minh cầm quyền, những ai đang nắm quyền sẽ bổ nhiệm nhiều vị trí quan trọng, dù không có vị trí nào nhiều quyền lực bằng vị trí thủ tướng. Thủ tướng được giao phục vụ yêu cầu của phía đa số đang cầm quyền và sẽ làm như vậy cho đến khi ông ta hoặc bà ta đánh mất sự ủng hộ của giới lập pháp. Khi thủ tướng đánh mất sự ủng hộ của bên lập pháp, thể hiện qua việc bỏ phiếu bất tín nhiệm, thì sẽ phải tổ chức cuộc bầu cử mới. Một cách làm khác là bỏ phiếu tín nhiệm, tức là một hành động do chính phủ khởi xướng. Ở đây, nếu chính phủ cầm quyền không có khả năng bảo đảm đa số phiếu trong cơ quan lập pháp thì chính phủ phải từ nhiệm (Clark, Golder, & Golder, 2009). Một vài quốc gia áp dụng phiên bản bỏ phiếu tín nhiệm hơi khác một chút, gọi là bỏ phiếu tín nhiệm có tính xây dựng. Ở Đức và Hungary – hai nước có sử dụng công cụ này, bên lập pháp phải đồng ý về một chính phủ thay thế trước khi giải tán chính phủ hiện có.

Có thể đoán trước được là sự hợp tác giữa các chính trị gia rất quan trọng trong các hệ thống đại nghị vì nếu không, mọi quan chức được bầu sẽ phải chạy đua cho việc bầu cử lại và như vậy sẽ có nguy cơ đánh mất vị trí của họ. Khi thiếu kỷ luật hoặc hợp tác của các đảng thì chính phủ có khả năng sụp đổ. Đây chính xác là điều vừa xảy ra với CH Czech. Giống như nhiều nước khác trong vài năm qua, CH Czech cũng bị cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu gần đây tác động và khi rắc rối kinh tế kết hợp với xung đột chính trị nội bộ, người ta không mấy ngạc nhiên khi liên minh cầm quyền đánh mất quyền lực của mình.

Mặc dù sự tồn tại của liên minh tùy thuộc vào sự hợp tác và kỷ luật đảng nhưng nhân vật quyền lực nhất hay nổi bật nhất trong hầu hết các chính phủ nghị viện là thủ tướng. Các thủ tướng được bầu lên bởi liên minh cầm quyền nhưng không phải thủ tướng nào cũng có quyền lực như nhau. Trên thực tế, Giovanni Sartori (1994) giải thích là có ít nhất ba kịch bản thường xảy ra với hầu hết các chính phủ đại nghị: Một thủ tướng có thể là người đứng đầu trên những người không tương đồng (first above unequals), người đứng đầu trong số những người không tương đồng (first among unequals), hoặc là người đứng đầu trong những người tương đồng (first among equals). Quyền lực của thủ tướng là lớn nhất trong trường hợp đầu tiên (tức là người đứng đầu trên những người không tương đồng), mà có thể tìm thấy ví dụ ở những nơi như Đức, Hy Lạp và Anh quốc (Lijphart, 1999). Ngược lại, trong số những thủ tướng yếu nhất, (người đứng đầu trong những người tương đồng) là người đứng đầu các chính phủ ở Italy, Hà Lan và Na Uy (Lijphart, 1999). Làm thế nào để phân biệt các thủ tướng mạnh với các thủ tướng yếu? Thông thường, các nhà nghiên cứu dựa vào quyền lực của thủ tướng đối với các thành viên khác trong nhánh hành pháp (ví dụ: bộ trưởng Tài chính ở Anh quốc so với thủ tướng), khả năng của thủ tướng trong việc chèo lái quá trình hoạch định chính sách, và khả năng của ông ta/bà ta trong việc cách chức và bổ nhiệm các thành viên của nhánh hành pháp. Đây chỉ là một vài ví dụ về cách chúng ta có thể đo lường sức mạnh của thủ tướng; có thể thấy nhiều ví dụ hơn ở các nguồn khác (xem King, 1994; Lijphart, 1999).

Ngoài những đặc điểm này, đâu là những đặc thù khác mà chúng ta thấy trong các chính phủ đại nghị? Ngoài việc thiếu sự phân chia giữa nhánh lập pháp và hành pháp đã đề cập ở trên, cần phải nhấn mạnh một vài thuộc tính khác. Đặc biệt, các chính phủ đại nghị thường dẫn đến sự hợp tác. Bởi vì sự tồn vong chính trị của họ tùy thuộc vào hợp tác nên các thành viên của cơ quan lập pháp sẵn sàng làm việc với nhánh hành pháp nhiều hơn so với các nhà lập pháp ở chế độ tổng thống. Hơn nữa, mặc dù các tòa án được thành lập và vận hành đầy đủ trong nhiều nền dân chủ nhưng thường thì trong các chính phủ đại nghị không có chuyện phân chia quyền lực hay kiểm soát và cân bằng giữa các nhánh lập pháp và hành pháp như trong các chính phủ tổng thống.

Trong hầu hết các chính phủ đại nghị, chúng ta cũng thấy việc sử dụng hệ thống bầu cử cơ chế đại diện theo tỷ lệ [proportional representation – PR] để biến các lá phiếu thành các ghế lập pháp. Điều này cũng có vài ngoại lệ. Nước Anh và Ấn Độ đều áp dụng hệ thống bầu cử đa số theo đơn vị bầu cử một thành viên [single member district – SMD] để lấp đầy các ghế lập pháp. Việc sử dụng hệ thống bầu cử SMD ở nước Anh tạo điều kiện thuận lợi chủ yếu cho hai đảng lớn là đảng Bảo Thủ và đảng Lao Động và không thuận lợi cho đảng Dân chủ Tự do. Mặc dù có những ví dụ khác của hệ thống đại nghị sử dụng hệ thống bầu cử SMD nhưng thường thì các hệ thống đại nghị sử dụng hệ thống PR nhiều hơn. Trong các chế độ bầu cử đó, chúng ta hay thấy nổi lên các hệ thống đa đảng vì có sẵn nhiều ghế cho mỗi khu vực bầu cử hơn. Cách đây nhiều năm, Maurice Duverger (1954) – một nhà khoa học chính trị lỗi lạc người Pháp – quan sát thấy các hệ thống PR thường sản sinh ra các hệ thống đa đảng trong khi các hệ thống SMD thường có tác động hạn chế số lượng các đảng chính trị. Cụ thể hơn, ông giải thích rằng hầu hết các hệ thống SMD thường sản sinh ra những hệ thống hai đảng như ở Hoa Kỳ và, với một mức độ tương tự, ở Anh quốc.

Hệ thống đa đảng thường thấy trong các chính phủ đại nghị sử dụng hệ thống bầu cử PR. Điều này đặc biệt hấp dẫn với những xã hội bị phân rẽ cao. Trên thực tế, với sự chia rẽ phe phái sâu sắc ở Iraq, không có gì đáng ngạc nhiên khi những kiến trúc sư của nền dân chủ trẻ tuổi ấy chọn phong cách quản trị đại nghị với hệ thống bầu cử PR. Cơ cấu này giúp các nhà lãnh đạo Iraq đại diện được nhiều lợi ích đa dạng, bao gồm các lợi ích về chính trị, dân tộc, tôn giáo và địa lý. Sự lựa chọn loại hình chính phủ và hệ thống bầu cử là một quyết định quan trọng; thực ra, sắp xếp này có thể cho phép các đảng tham gia vào quá trình hoạch định chính sách và, ít nhất trên lý thuyết, điều này giúp kiềm chế các căng thẳng của Iraq. Việc chính phủ đại nghị với hệ thống bầu cử PR có nhiều khả năng đại diện các lợi ích khác nhau là một trong những đặc điểm hấp dẫn hơn của thể loại chế độ này.

Một đặc điểm rõ rệt khác của các chính phủ đại nghị là sự thiếu vắng nhiệm kỳ cố định. Các lá phiếu tín nhiệm được dùng để duy trì một chính phủ liên minh có nghĩa là một chính phủ có thể đổ vỡ bất cứ lúc nào. Mặc dù hầu hết các quốc gia theo chế độ đại nghị có những quy định đòi hỏi tổ chức bầu cử sau 4 hay 5 năm nhưng hầu hết các nhiệm kỳ nghị viện đều có thể rút ngắn. Những cuộc bầu cử có thể được tổ chức bất cứ lúc nào này còn được gọi là bầu cử được định giờ nội sinh (endogenously timed elections). Nghiên cứu khoa học chính trị gần đây thấy rằng các chính trị gia có thể dùng đặc điểm này để mở rộng sự nghiệp chính trị của mình: Khi một chính phủ được nhìn nhận một cách tích cực, các cuộc bầu cử có thể được thực hiện sớm hơn nhằm tận dụng thành công đang có, nhưng khi mức độ ủng hộ của công chúng đang ở mức thấp hoặc đang giảm thì chính phủ liên minh thường trì hoãn bầu cử. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác nhận thấy là vì các lãnh đạo chính trị sở hữu những thông tin chính xác hơn các cử tri nên bầu cử sớm sẽ được tổ chức nếu các quan chức được bầu dự tính sẽ có xung đột chính trị hoặc bất ổn kinh tế (Smith, 2003). Liên quan tới điều này, các công trình khác đã phát hiện thấy rằng các cử tri nắm rõ cách làm này và, trong một số trường hợp, có thể trừng phạt các thành viên liên minh vì đã tổ chức bầu cử quá sớm. Tuy vậy, đây vẫn là một nét hấp dẫn của mô hình Westminster vì nó cho phép các cử tri có nhiều công cụ hơn nhằm kiểm soát các quan chức được bầu.

http://nghiencuuquocte.org/2013/12/08/93-so-sanh-che-do-tong-thong-voi-che-do-dai-nghi/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét